Minh họa: Phùng Anh Bản
Có một lần dự đám giỗ nhà ông trưởng thôn, đám nông dân sồn sồn của làng Hạ kháo nhau về người đàn ông ở ngã ba làng Hạ. Người thì khẳng định ông Năm đến làng Hạ từ năm 1975, người thì quả quyết là năm 1976. Cuộc cãi vã đến hồi gay gắt thì có một thanh niên đứng phắt dậy nói lớn: “Này, các chú, các anh nghe tui nói. Muốn biết chắc chắn ông Năm đến làng Hạ năm nào, giờ tui với thằng Cò đến hỏi ông ta sẽ rõ”. Cả đám người nhôn nhao: “Đúng đấy! Hay đấy! Hãy đợi. Ai đúng, ai sai sẽ biết ngay thôi mà”.
Hai chàng “nghĩa hiệp” đèo nhau trên xe đạp đến túp lều của ông Năm nằm cạnh ngã ba đường làng Hạ lúc trời đứng bóng. Mình mẩy cả hai nhễ nhãi mồ hôi. Ông Năm ngồi uống nước trên chiếc võng cước ngả màu vàng ố, có nhiều lỗ thủng. Dưới chân ông đặt chiếc ấm đất ám khói. Thằng Cò thò đầu vào cửa, giọng ấp a, ấp úng: “Khưa… ông Ngăm… ông… ến… ây… ngăm… ngào… hở?”. Người đàn ông nói giọng trầm đục và có phần gay gắt: “Ủa chú là ai? Hỏi tôi để làm gì?”. Chàng thanh niên đi cùng với thằng Cò bước vào nhà, ôn tồn: “Dạ, thưa bác Năm, số là mấy ông làng Hạ đoán non, đoán già về cái mốc thời gian bác đến ở làng Hạ nên tụi cháu đến hỏi bác cho biết”. Ông Năm cười: “Mấy chú thông cảm! Tui già rồi không còn nhớ”.
Thế là hai chàng rút lui có trật tự. Từ đó có một số người gán cho ông Năm biệt danh “Ông Năm Gàn”. Thật ra ông Năm Gàn chẳng gàn tí nào. Có điều, ông sống trong sự mặc cảm và khép kín quan hệ với mọi người. Nhưng đặc biệt là ông rất yêu trẻ em. Túp lều của ông Năm Gàn thật sơ sài, mái lợp tranh, tường dựng cót ép. Cửa cũng là cót ép ghép cây xung quanh. Ngày hai buổi, ông Năm Gàn đi làm thuê. Ai thuê gì, ông làm nấy. Một hôm, thằng bé nhà ở cạnh ngã ba làng Hạ nhân lúc ông Năm Gàn đi vắng, nó lẻn vào nhà ông. Cánh cửa nhà bao giờ ông Năm Gàn cũng cột bằng dây thép ngoéo qua, ngoéo lại mấy bận cho có chuyện rồi để đó. Ông Năm Gàn đâu có cái gì đáng giá mà sợ mất cắp. Với lại nhà ở gần đường từ sáng đến chiều không lúc nào vắng người qua lại. Thằng bé quá quen thuộc với mấy bộ quần áo cũ mèm vắt trên dây. Và nó cũng chẳng thèm để mắt tới mấy cái xoong, nồi, chảo, cái nào cũng sứt quai. Nó nhoài người xuống cát, bò vào gầm giường, lôi ra chiếc ba lô bạc thếch. Những lần đến chơi, thằng bé bắt gặp ông Năm Gàn giấu vội cái gì đó vào trong ba lô. Nó nghi chắc là ông Năm Gàn cất giấu vàng bạc. Nó kéo từng chiếc áo, chiếc quần nhàu nát vứt ra ngoài, sờ soạng dưới đáy ba lô. Tim nó đập thình thịch khi vớ phải chiếc túi màu nâu nằng nặng. Nó khẽ reo lên: “Đây rồi!”. Nó nhét vội quần áo vào ba lô, cột lại cẩn thận rồi cuỗm cái túi vải, chuồn êm. Về tới nhà, thằng bé mở túi trút ra giữa nền nhà, vô số những ngôi sao năm cánh màu vàng, màu trắng. Có những cái tròn trịa như đồng bạc. Nó cầm từng cái đưa lên lẩm nhẩm đọc: “Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công, Huân chương Kháng chiến, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang, Dũng sĩ diệt Mỹ… là cái gì vậy nhỉ?”. Thằng bé nhìn vật lạ một cách thích thú, bất chợt má nó xuất hiện: “Này, con cầm cái gì đó?”. Thắng bé luýnh quýnh: “Dạ, con lượm…”. Sự bối rối của nó không qua nổi ánh mắt của má nó: “Mày lấy cắp của ai phải không? Đưa đây! A! Huân chương ở đâu nhiều thế này?”. Thằng bé tiếp tục chống chế: “Dạ, con nhặt được ở ngoài đường”. Má nó quát: “Láo! Mày lấy trộm của ai nói mau!”. Đến nước này, nó không còn đường thoát: “Dạ, con lấy của ông Năm Gàn”. Người phụ nữ đay nghiến: “Trời ơi! Ai bảo mày đi lấy cắp của người ta? Mày đem trả gấp, không tao đánh đòn bây giờ”. Nghe dọa đánh đòn, thằng bé nhặt vội những tấm huân chương, kỷ niệm chương, huy hiệu bỏ vào túi vải, phóng vèo ra cửa. Còn má nó thì lẩm bẩm một mình: “Quái lạ! Ông Năm Gàn làm gì có nhiều huân chương vậy?”.
*
Những cơn mưa rào đi qua như những liều thần dược truyền vào cỏ cây màu xanh mượt mà. Không khí cũng trở nên dễ chịu hơn, nhất là những con đường mới mở ở làng Thượng sạch bóng. Ông Năm Gàn xin làm công cho một đơn vị đấu thầu xây dựng trụ sở công ty ở làng Thượng. Gã quản lý công trình thấy ông Năm Gàn siêng năng và thật thà nên giao cho ông những việc lặt vặt, chủ yếu là trông coi vật liệu trên công trình. Một sáng, ông Năm Gàn loay hoay nhặt những chiếc vỏ bao xi-măng thì nghe có tiếng cằn nhằn từ phía sau lưng: “Các ông làm ăn thế à? Thời gian thi công phải đúng hợp đồng chớ!”. Gã quản lý công trình mềm mỏng: “Dạ, anh Hai yên tâm đi! Chúng em sẽ thi công bảo đảm thời gian”. Người đàn ông có phần lớn tiếng: “Các ông mà không thực hiện đúng hợp đồng thì đừng có trách tôi!”. Giọng nói nghe quen quen. Ông Năm Gàn nghỉ tay, ngẩng đầu lên nhìn. Ông nhủ thầm: “Người đàn ông bệ vệ, ăn mặc sang trọng kia sao hao hao giống một người quen dường như mình đã gặp ở đâu đó rồi nhỉ? Dường như hắn cũng nhìn mình bằng cái nhìn khác lạ? Ánh mắt của hắn nhìn mình lộ vẻ ngạc nhiên. Anh ta là ai?”. Ông Năm Gàn không tài nào nhớ nổi.
Buổi chiều. Trước giờ lao động, ông Năm Gàn đến gần gã quản lý, nhỏ nhẹ: “Này, chú! Cái ông gì đó hồi sáng đi xe con đến đây tên là gì vậy chú?”. Gã quản lý nhíu mày: “À! Ông Trịnh - Giám đốc Công ty Vật tư tổng hợp Vĩnh Thịnh đấy! Bác có quen với ông ta à?”. Ông Năm lắc đầu quầy quậy: “Ồ, không! Tôi hỏi cho biết vậy thôi. Ông ta có vẻ hách nhỉ!”. Gã quản lý như được chia sẻ bực tức: “Bác nói chứ tôi không dám. Nghe nói ông ta là một đại gia ở Sài Gòn”.
Suốt đêm, ông Năm Gàn trằn trọc. Hình ảnh của gã đàn ông béo phệ mà ông gặp hồi sáng cứ lởn vởn trong đầu. “Giám đốc Trịnh là ai?”. Hồi ức về cuộc chiến tranh quay về với ông từng mảng, từng mảng chắp vá. Rồi ông bật dậy khẽ reo: “A! Đúng rồi! Đúng là hắn rồi chứ Trịnh con khỉ gió. Đúng là mày rồi Long ơi! Hồi đó nếu tao không kiềm chế thì tao đã nổ súng vào đầu mày vì cái tội hèn nhát…”. Trời gần sáng, ông Năm Gàn mới chợp mắt đi tí chút.
Ông Năm Gàn bệnh liệt giường mấy hôm. Lũ trẻ hàng xóm xúm xít bên ông. Đứa thì nấu cháo, đứa thì mua thuốc cho ông uống. Thằng Tý trộm huân chương ngồi bên mép giường đút cháo cho ông Năm. Nó ân hận: “Ông Năm ơi! Đừng giận cháu nhé! Có lần cháu trót dại lấy trộm cái túi vải của ông…”. Ông Năm gượng cười, xoa đầu nó: “Ông biết các cháu đùa với ông cho vui thôi mà. Đừng nghĩ ngợi cháu à!”. Một thằng bé tóc vàng cháy chợt hỏi: “Ông Năm ơi! Hồi xưa ông cũng đi bộ đội phải không? Cháu thấy ông ốm yếu thế này làm sao đánh được giặc?”. Ông cười nhẹ: “Cháu nói đúng đó, ông ốm yếu thế này đánh đấm gì được”. Thằng Tèo quạt cho ông Năm Gàn luôn tay, miệng liến thoắng: “Ông Năm khiêm tốn rồi đó. Ông không đánh giặc mà sao có nhiều huân chương như vậy?”. Thằng Hoài thì bật dậy, đưa hai ngón tay trỏ chấp vào nhau, nheo mắt theo chiều dài ngón tay, miệng bật lên: “Pằng! Pằng! Chíu! Chíu!". Thằng Trung đang nấu nước cũng hứng chí kêu lên: “Cạch!... Đùng!... Cạch!... Đùng!”.
Ông Năm Gàn mỉm cười, nụ cười méo xệch: “Ôi! Các cháu thích đánh nhau ư? Chiến tranh là mất mát, đau thương các cháu có biết không? Nhưng, chiến tranh thời ông là giành tự do, độc lập, không thể khác được! Nếu không có chiến tranh thì bây giờ ông cũng có những đứa con như các cháu”.
*
Cả làng Hạ xôn xao bởi cái tin ông Năm Gàn được một vị tướng thân hành đến tận lều tặng quân phục và rước lên xe đưa về ủy ban xã dự lễ kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam. Khác với mọi năm, năm nay làng Thượng và làng Hạ tổ chức lễ 30 tháng 4, nhân dân đến dự đông vô kể. Khi chiếc xe dừng lại trước sân ủy ban, bà con nhốn nháo. Người bước xuống đầu tiên là một vị tướng ở Quân khu về. Kế tiếp là ông Năm Gàn mặc quân phục chỉnh tề, ngực đeo đầy huân chương. Dáng đi của ông Năm Gàn hôm nay bỗng trở nên oai vệ như vị chỉ huy cuộc diễu binh. Không hẹn, đám đông vỗ tay rào rào. Có nhiều người hô vang: “Hoan hô ông Năm! Hoan hô ông Năm!”. Cái biệt danh “Ông Năm Gàn” được khai tử ngay tức khắc. Mấy cậu bé hàng xóm với ông Năm tách đám đông ào ra vây lấy ông reo mừng. Ông Năm xoa đầu chúng, âu yếm, rồi quay sang vị tướng đi bên cạnh: “Đây là những vị cứu tinh của tớ. Nhờ các cháu mà tớ đỡ cô đơn nơi xứ lạ, quê người”. Vị tướng nói giọng khàn đi: “Thú thật, khi bước vào túp lều của cậu, tớ suýt bật khóc. Tớ đâu ngờ cậu ra nông nỗi này!”
Nhân ngày thành lập Sư đoàn 15 anh hùng, ông Năm được quân khu mời họp mặt truyền thống. Ông nhận ra trên hàng ghế danh dự có một đồng đội cũ. Ông mừng rơi nước mắt: “Ôi! Hảo! Đúng là Hảo rồi! Cậu có nhận ra tớ không?”. Người đàn ông mang quân hàm đại tá kêu lên thảng thốt: “Trời đất ơi! Anh Năm Thực! Thủ trưởng Thực đây mà! Sao anh lại ở đây? Anh vào Nam từ bao giờ?”. Đôi bạn ôm chầm lấy nhau rưng rưng nước mắt. Ổn định chỗ ngồi, ông Năm nói giọng buồn buồn: “Sau ngày thống nhất hai miền Nam, Bắc, vì thương tật, tớ phục viên về địa phương thì mới hay vợ con tớ đều qua đời trong một trận ném bom của Mỹ ngay trên mảnh đất quê hương. Nhà cửa tan hoang, không còn ai thân thuộc, tớ quẫn trí nhảy tàu vào Nam lang thang rồi lưu lạc đến đây”. Đồng đội cũ rơi nước mắt: “Khổ thân cho anh quá! Thủ trưởng có nhận ra ai ngồi trên hàng ghế danh dự phía bên kia không? Thằng Long đấy! Giờ nó làm giám đốc của một công ty có tầm cỡ”. Ông Năm bức bối: “Ờ, cái thằng khốn kiếp ấy giờ thay tên đổi họ. Giám đốc Trịnh là nó đấy. Ngày trước, nếu tớ cũng đớn hèn như nó thì có lẽ bây giờ cậu mục xương rồi. Cậu còn nhớ trận đánh ở Khe Sanh vào mùa hè năm 1972 chứ? Chính nó đã bỏ chạy lúc cậu đang bị thương!”. Đồng đội cũ nhổm dậy: “Sao ngày đó anh không nói cho em biết?”. Ông Năm cười buồn: “Để làm gì?”. Đôi mắt của người đàn ông như rực lửa: “Sau khi chữa lành vết thương, em tát vào mặt hắn mấy cái cho biết nhục. Tí nữa em sẽ gặp hắn…”. Ông Năm lại cười buồn: “Muộn rồi Hảo ơi! Cậu xem kìa, hắn chuồn ra cửa sau mất rồi!”.