Thứ bảy, 26/05/2012 19:53PM
Các ấn phẩm của Báo Hải Dương: Hải Dương hằng ngày phát hành thứ 2, 3, 4, 5, 6, 7. Hải Dương cuối tuần phát hành chủ nhật. Hải Dương hằng tháng phát hành từ 20-22 hằng tháng. Hải Dương Online cập nhật tin tức liên tục trong ngày.
Kinh tế
Sản xuất rau an toàn gặp khó, vì sao?
  03/07/2010 06:38:15 AM

Mô hình sản xuất rau an toàn ở xã Lê Lợi (Gia Lộc) gần như không còn hoạt động

Tỉnh ta triển khai thực hiện mô hình sản xuất rau an toàn (RAT) từ năm 2003. Nhưng đến nay, việc xây dựng các mô hình sản xuất RAT vẫn gặp nhiều khó khăn.

Cách đây 8 năm, xã Gia Xuyên (Gia Lộc) có gần 50ha sản xuất RAT. Để triển khai dự án, HTX Dịch vụ nông nghiệp đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn tổ chức tập huấn, hướng dẫn nông dân cách nhận biết và thực hiện các quy trình sản xuất RAT. Cán bộ kỹ thuật của Chi cục bảo vệ thực vật (BVTV) và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNN) thường xuyên giám sát mô hình, hướng dẫn nông dân cách chăm sóc và phòng, trừ sâu, bệnh trên cây trồng. Nông dân đã dần làm quen và thích nghi với cách chăm sóc rau. Tuy nhiên, đến năm 2007 dự án rau an toàn của xã Gia Xuyên gần như chỉ hoạt động cầm chừng. Hầu hết các hộ nông dân trở về với tập quán canh tác cũ. Bác Nguyễn Văn Lợi, người từng tham gia mô hình RAT của xã cho biết: “Khi tham gia mô hình RAT, người nông dân được hướng dẫn cụ thể 5 quy định về trồng RAT. Nhưng công trồng rau bỏ ra nhiều mà giá bán rau không hơn gì những ruộng trồng rau ngoài mô hình. Nhiều khi thương lái không thu mua sản phẩm RAT phần vì rau xấu, phần vì không có gì chứng minh rau bảo đảm an toàn”.


Nông dân xã Phạm Kha (Thanh Miện) được tiếp cận với quy trình sản xuất rau an toàn từ năm 2003 nhưng không duy trì được

Không chỉ riêng xã Gia Xuyên, mô hình RAT tại xã Phạm Kha (Thanh Miện) cũng gặp nhiều khó khăn. Với truyền thống trồng rau nhiều năm, năm 2003, xã Phạm Kha đã quy hoạch được gần 100ha trồng RAT. Mặc dù đã bảo đảm các tiêu chí về RAT như: chỉ số ni-tơ-rát trong rau thấp dưới ngưỡng cho phép; không xuất hiện trực khuẩn gây bệnh đường ruột và không có dư lượng thuốc BVTV..., song do giá bán RAT và rau trồng theo phương thức truyền thống không khác nhau, trong khi chi phí ngày công cho những diện tích ngoài vùng RAT lại thấp hơn nên nhiều hộ dân ở Phạm Kha không còn mặn mà với việc trồng RAT.

Tuy nhiên, nguyên nhân các mô hình trồng RAT thất bại không chỉ có vậy. Nguyên nhân đầu tiên là nông dân không tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật canh tác RAT. Trước khi thu hoạch, một số nông dân thấy rau xấu hay bị sâu, bệnh đã tự động phun thuốc BVTV hay bón thêm đạm khiến dư lượng thuốc trừ sâu và lượng đạm vượt quá mức cho phép. Hầu hết nông dân tự phá vỡ quy trình từ khâu làm đất, bón phân đến phòng, trừ sâu, bệnh. Kết quả là nhiều vùng sản xuất RAT không đạt tiêu chuẩn. Nhiều nông dân còn trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ kinh phí của tỉnh nên dự án RAT kết thúc cũng đồng nghĩa với việc rau không còn an toàn.

Mặt khác, người trồng RAT còn phải đối mặt với khó khăn trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm. Để bán được rau, nông dân thường mang ra chợ bán kèm với các loại rau không được trồng trong mô hình nên "ranh giới" giữa hai loại rau mờ nhạt, đánh mất lòng tin của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, hiện tượng chợ cóc, chợ tạm, chợ vỉa hè tràn lan trong khi hệ thống các cửa hàng, siêu thị bán RAT trên địa bàn tỉnh rất hiếm, khiến việc tiêu thụ RAT gặp nhiều khó khăn. Người dân tiện đâu mua đấy nên chất lượng RAT cũng ít được chú ý. Khi rau "bẩn" vẫn được người tiêu dùng ủng hộ thì RAT khó tìm được chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Người trồng rau muốn khẳng định thương hiệu RAT nhưng chi phí cho việc đánh giá, kiểm nghiệm chất lượng còn khá cao. Để có được tấm giấy chứng nhận RAT, người sản xuất phải bù lỗ cho sản phẩm của mình. Nghịch lý này khiến nhiều doanh nghiệp và nông dân tự rút lui khỏi mô hình sau khi mới chỉ tham gia một thời gian ngắn.

Để RAT tìm được chỗ đứng trên thị trường, người trồng rau cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình sản xuất RAT. Đẩy mạnh tuyên truyền cho người tiêu dùng hiểu rõ về sự độc hại của các sản phẩm rau không an toàn đối với sức khỏe con người. Khi người dân có nhu cầu về RAT thì việc tìm đầu ra cho sản phẩm và việc quy hoạch các vùng sản xuất RAT cũng dễ dàng hơn. Các cơ quan chuyên môn cần tăng cường chuyển giao kỹ thuật, công nghệ cho nông dân; đầu tư cơ sở vật chất từ hệ thống nước tưới, điện, đường và các cơ sở chế biến, giới thiệu sản phẩm. Cần quy hoạch vùng sản xuất, chú trọng những vùng nông dân có trình độ thâm canh cao, có truyền thống trồng rau và hạ tầng nông nghiệp tương đối phát triển. Chủ động xây dựng hệ thống giám sát sản phẩm và hình thành các liên kết ổn định, nhất là liên kết “4 nhà” phải thực sự chặt chẽ để tìm đầu ra cho sản phẩm. Tăng cường kiểm tra việc sử dụng thuốc BVTV, phân bón, thuốc kích thích tăng trưởng để ngăn chặn kịp thời phân tươi, nước ô nhiễm bón rau. Khuyến khích các doanh nghiệp ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. Ngoài việc thiết lập thêm các điểm bán rau, quả sạch cố định, người trồng rau cần mở rộng thị trường tiêu thụ ra các bếp ăn tập thể, các khách sạn, nhà hàng… Các cơ quan chức năng cần đẩy mạnh việc xây dựng thương hiệu cho RAT; đồng thời có các biện pháp kiểm định chất lượng RAT với chi phí phù hợp. Đa dạng hóa các chủng loại sản phẩm và có phương án phát triển cơ cấu các loại rau hợp lý để đáp ứng được nhu cầu của thị trường.

Theo Chi cục trưởng Chi cục BVTV tỉnh Phạm Nguyên Hạnh, năm 2010 tỉnh ta triển khai dự án sản xuất RAT do Bộ NN - PTNT đầu tư, nguồn vốn vay từ Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) sẽ mở ra hướng sản xuất RAT mới cho nông dân. Các mô hình sản xuất RAT sẽ khắc phục được tính nhỏ lẻ, manh mún, phân tán. Các vùng trồng rau sẽ được đầu tư về giao thông, thủy lợi. Mối quan hệ giữa nông nghiệp, thương mại và y tế sẽ được tăng cường. Qua đó hy vọng sẽ quy hoạch và phát triển được các mô hình RAT thực sự có hiệu quả.

P.V
 
Thăm dò ý kiến
Làm gì để đẩy nhanh dự án xây dựng khu lưu niệm Tự lực văn đoàn?
Tiếp tục để UBND thị trấn Cẩm Giàng làm chủ đầu tư
Giao Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch làm chủ đầu tư