
|
| Thành viên Chính phủ Lâm thời sau buổi họp Chính phủ đầu tiên |
Cách
mạng Tháng Tám thành công vừa tròn một tháng, ngày 19-9-1945, Bác Hồ
cho công bố bài viết dưới bút danh Chiến Thắng: “Chính phủ là công bộc
của dân”(*).
Bài viết giản dị, dễ hiểu, ngắn gọn, chỉ có 411 từ, nhưng
vô cùng hàm súc, chặt chẽ, và ngay cái tiêu đề đã chỉ rõ nội dung tư
tưởng là mỗi cán bộ, nhân viên nhà nước (Chính phủ) đều là công bộc của
nhân dân, hay như sau này trong Di chúc, Bác Hồ khẳng định là “người
đầy tớ” của nhân dân. Bởi thực chất, Chính phủ của ta là do nhân dân ta
bầu (cử) ra, đại diện cho quyền lợi của nhân dân, không có nhân dân thì
Chính phủ không có lực lượng; không có Chính phủ thì nhân dân không có
người dẫn đường, nên Chính phủ và nhân dân luôn kết thành một khối vững
chắc. Chính phủ mà Bác Hồ nói ở đây là: “Các uỷ ban nhân dân làng, phủ
là hình thức chính phủ địa phương”, hay như ngày nay chúng ta thường
nói là chính quyền các cấp, từ địa phương đến trung ương.
Để nêu
bật sự gắn kết chính quyền với nhân dân, nhân dân với chính quyền, Bác
Hồ lấy ví dụ: “Chính phủ đối với ta như người “anh cả” trong gia đình”.
Đã là người “anh cả” tất phải có trọng trách nặng nề hơn lớp đàn em, và
Người chỉ rõ trọng trách đó là gì và có ảnh hưởng như thế nào với những
người bên dưới: “Một đồng chí phụ trách trong một địa phương, một người
đứng mũi chịu sào ta có thể vững lòng trông cậy và gửi gắm số mệnh
vào”. Qua đây ta thấy Bác Hồ đánh giá rất cao vai trò của người lãnh
đạo, người phụ trách một địa phương, đơn vị vừa là “người “anh cả”
trong gia đình”, luôn gần gũi, yêu thương, quý trọng mọi người; vừa là
người “đứng mũi chịu sào”, đưa con thuyền nhân dân vượt qua mọi gian
nan, thử thách mà mọi người vẫn vững lòng tin cậy và gửi trao số mệnh
vào người chèo lái.
Sự sâu sắc ở lời căn dặn ấy của Bác Hồ là trong khi
đề cao vai trò của người lãnh đạo, người phụ trách như “người anh cả”,
“người đứng mũi chịu sào”, đến mức người ta không chỉ “trông cậy” mà
còn “gửi số mệnh vào”, thì Bác Hồ vẫn đặc biệt lưu ý người lãnh đạo,
người phụ trách phải biết mình là ai. Và Người lấy ngay ví dụ để giảng
giải: “Người xưa nói: quan là công bộc của dân”; thì ngày nay, dưới chế
độ dân chủ, cộng hoà, quan lại không còn, nhưng tính chất sự việc, xét
về bản chất công vụ, thì: “Ta cũng có thể nói: Chính phủ là công bộc
của dân vậy”. Mà đã là công bộc của dân thì mọi công việc của chính
quyền, của người phụ trách đều phải vì mục đích duy nhất là “mưu tự do
hạnh phúc cho mọi người”. Và Người nhấn mạnh: “Chính phủ nhân dân bao
giờ cũng phải đặt quyền lợi của dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi
cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”. Tư tưởng chỉ
đạo ấy của Bác Hồ đối với các cấp chính quyền, với mỗi người phụ trách
từ cách đây 65 năm, nhưng nay đọc lại vẫn còn hồng tươi ý nghĩa thực
tiễn.
Để mỗi cấp lãnh đạo, mỗi người phụ trách “bao giờ cũng
phải đặt quyền lợi của dân lên trên hết”, thì cái cần và đủ là như thế
nào? Đấy chính là những cái không nằm ngoài điều mà ngày nay chúng ta
gọi là tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ. Dù là ở cấp nào, làng xã hay huyện,
phủ thì những tiêu chuẩn cơ bản vẫn không thể xem nhẹ: “Các uỷ ban nhân
dân làng, phủ là hình thức chính phủ địa phương, phải chọn trong những
người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có
năng lực làm việc, được đông đảo nhân dân tín nhiệm”. Thiết nghĩ những
tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ, nhất là người lãnh đạo, người phụ trách:
công tâm, trung thành, sốt sắng, năng lực và tín nhiệm, mà Bác Hồ nêu
ra từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, đến nay vẫn còn nguyên giá
trị, giúp chúng ta có cái nhìn khách quan, khoa học trong khi đánh giá,
lựa chọn người vào chức danh lãnh đạo ở mỗi cấp, mỗi ngành.
Trong khi
đặt ra yêu cầu cao đối với mỗi người lãnh đạo, người phụ trách trong
việc thực thi nhiệm vụ, thì đồng thời Bác Hồ cũng nhắc nhở: “Nhân viên
uỷ ban không lợi dụng danh nghĩa uỷ ban để gây bè tìm cánh, đưa người
“trong nhà trong họ” vào làm việc với mình”. Người còn khẳng định dứt
khoát: “Bao nhiêu những cái xấu xa, thối nát, bất công, áp bức của chế
độ cũ, không thể tồn tại trong các uỷ ban nhân dân bây giờ”. Không gây
bè kéo cánh, không tha hoá biến chất, giữ cho mỗi nhân viên uỷ ban đều
trong sạch, để cả uỷ ban nhân dân, cả các cấp chính quyền đều trong
sạch, thì chính phủ (chính quyền) mới thực sự là “công bộc của dân”. Mà
để làm tốt chức năng “công bộc” thì có lẽ không gì hơn là phát động
được dân chúng tự giác tham gia hành động cách mạng với tinh thần của
người làm chủ. Thế nên, chỉ trong hai câu kết bài viết, Bác Hồ hai lần
nhấn mạnh cụm từ “tự do, dân chủ”, coi đó là nhiệm vụ mà uỷ ban nhân
dân phải coi trọng hàng đầu trong tổ chức thực hiện và trong quá trình
thực hiện luôn luôn bám sát tinh thần đó: “Uỷ ban nhân dân là uỷ ban có
nhiệm vụ thực hiện tự do dân chủ cho dân chúng. Nó phải hành động đúng
tinh thần tự do dân chủ đó”.
Qua đây, ta thấy ngay từ khi mới giành
chính quyền, Bác Hồ đã đặc biệt coi trọng tự do, dân chủ; bởi chỉ có
làm cho mỗi người đều thấy mình được giải phóng, được khơi dậy tiềm
năng lao động sáng tạo, và mỗi người đều thấy giá trị đích thực của
mình để từ đó hăng hái tham gia đóng góp, phụng sự quê hương, đất nước
với ý thức của người làm chủ, thì đấy chính là sức mạnh to lớn cho công
cuộc kiến quốc. Đấy cũng là điều ngày nay đọc lại bài viết của Bác Hồ
cách đây 65 năm “Chính phủ là công bộc của dân” chúng ta cần suy ngẫm
để làm thế nào xứng đáng là người “công bộc của dân” trong thời kỳ mới.
CAO NĂM-------------------------
(*) Hồ Chí Minh - Tuyển tập - tập 2, tr.12 - NXB Chính trị quốc gia