In bài viết này    
Thứ bảy 26/05/2012 01:42:31
Thiền sư Pháp Loa
Thiền sư Pháp Loa  là môn đệ của Trần Nhân Tông, Tổ thứ hai của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Sư có công ấn hành Đại tạng kinh tại Việt Nam và  nhiều tác phẩm Thiền học, luận thuyết... ông mất khi mới 46 tuổi.

Tượng Thiền sư Pháp Loa.
Pháp Loa sinh ngày 17-5 năm Giáp Thân, niên hiệu Thiệu Bảo thứ 6 (1284), tại thôn Đồng Hoà, hương Cửu La, Nam Sách giang, nay thuộc xã Ái Quốc, huyện Nam Sách (tỉnh Hải Dương). Cha họ Đồng, hiệu Thuần Mậu vốn dòng tịnh hạnh; mẹ họ Vũ, hiệu Từ Cứu . Khi nhỏ, sư có thiên tư dĩnh ngộ, không nói điều ác, không ăn thứ ôi tanh. Trước đó, thân mẫu sinh liên tiếp 8 con gái, bà chán ngán, khi lại có thai, bà âm thầm tìm thuốc công hiệu để phá, nhưng uống đến 4 lần mà thai vẫn yên. Khi sinh con trai, bà rất mừng, đặt tên là Đồng Kiên Cương.

Năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304), Điều Ngự Đại Đầu đà Trần Nhân Tông đi các miền để trừ dâm thần, bố thí phép chữa bệnh cho người nghèo, cấp thiết hơn cả là tìm người thừa kế dòng thiền. Đồng Kiên Cương xin theo, được Điều Ngự chấp nhận và đồi tên là Thiên Lai. Sau Thiên Lai trở thành học trò xuất sắc của Điều Ngự. Năm Hưng Long thứ 13 (1305), sư được ban pháp hiệu là Pháp Loa.

Ngày mồng một tháng Giêng năm Hưng Long  thứ 16 (1308), tại Cam Lộ đường, chùa Siêu Loại, trước khi nhập diệt Điều Ngự Đầu đà Trần Nhân Tông  đã giao cho Thiên Lai nối dòng pháp.

Trong 4 năm, từ một trai tráng nơi thôn dã, Đồng Kiên Cương - Thiên Lai đã kiên trì tu luyện, trở thành vị tổ thứ hai của một thiền phái. Đây là trường hợp độc nhất,  vô nhị trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Tháng 12 năm Đại Khánh thứ 4 (1317), sư lập Viện Quỳnh Lâm (nay thuộc Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh), một trung tâm Phật giáo lớn của Việt Nam. Năm Đại Khánh thứ 8 (1321), sư phụng chiếu đặt pháp hiệu cho Chiêu Từ Hoàng Thái phi và viết lời bạt cho kinh Đại Tạng Kinh này do vua Trần Anh Tông và các cung tần chích máu viết trên 5.000 cuốn. Tháng 6, ngày 13 năm Đại Khánh thứ 9 (1322), Thái Thượng Hoàng xuống chiếu sai sư soạn Tham thiền chỉ yếu, gia tặng cho sư hiệu Minh Giác.

Trong 26 năm tu hành, Pháp Loa đã đúc hơn 1.300 pho tượng lớn nhỏ, 2 bộ tượng sơn mài, hơn 100 tượng bằng đất, dựng 2 chùa lớn, 5 ngôi tháp, lập hơn 200 tăng xá, độ trên 15.000 tăng ni, soạn và in nhiều kinh sách, trong đó có bộ Đại Tạng, đây là bộ kinh lớn của Phật giáo. Hơn 3.000 đệ tử đắc pháp, 6 pháp sư...Thái Thượng Hoàng Trần Anh Tông cũng tự nhận là đệ tử của sư.

Năm Khai Hựu thứ 2 (1330) sau khi lên kinh đô chúc mừng Thái Thượng Hoàng dẹp loạn ở Nê Giang thắng lợi trở về, sư đột ngột lâm bệnh nặng và an nhiên viên tịch vào ngày 3-3. Di hài được an táng tại chùa Thanh Mai.

Thượng Hoàng sai Trung sứ thân hành đến lo tang. Ngày 11-3, Thượng Hoàng ngự bút, gia phong tên hiệu cho sư là Tịnh trí tôn giả và 3 chữ Viên Thông Tháp, đề trên tháp mộ. Đồng thời, tặng 10 lạng vàng để xây tháp và viết bài thơ viếng đầy xúc cảm.

Nay đến chùa Côn Sơn, Thanh Mai, Quỳnh Lâm hay Hoa Yên (Yên Tử) còn thấy dấu tích thời Minh Tông, khẳng định công lao to lớn của Pháp Loa với thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, một thiền phái mang tinh thần tự chủ, tự cường về dân tộc và tôn giáo của Đại Việt thời Trần.

Ngày giỗ tổ Pháp Loa trở thành ngày hội lớn của tín đồ Phật giáo và nhân dân địa phương. Hội bắt đầu từ ngày 01 đến ngày 03-3 âm lịch hằng năm, tại các chùa Thanh Mai, Văn Xá và Quỳnh Lâm ( Yên Tử).

(Theo Địa chí Hải Dương)
© Báo Hải Dương, số 10 Đức Minh, phường Thanh Bình, TP Hải Dương
Cơ quan chủ quản: Tỉnh ủy Hải Dương
Giấy phép xuất bản số 91/GP-TTĐT ngày 9-9-2008. Tổng Biên tập: Nguyễn Hải Bình
© Ghi rõ nguồn "Báo Hải Dương" khi sử dụng lại thông tin từ Hải Dương Online
Powered By VICORP