Rơm rạ, lúa trải vàng và vung vãi trên những
cánh đồng vừa khô, nắng cũng trải lên đó cái màu vàng như mật, mấy ngọn
gió xuân hây hẩy bay nhảy trên đồng. Trên lưng trời xanh ngắt, chim én
chao lượn dệt mùa xuân. Rồi xóm ấp bỗng chộn rộn lên bằng một sinh khí
mới... Thế là tết về, nôn nao, dung dị và tràn ngập làng quê miệt Hậu
Giang.
 |
| Vớt bánh tét |
Miệt Hậu Giang là tên gọi cũ vào thế kỷ 19 của vùng
đất tính từ tả ngạn sông Cửu Long xuống mũi Cà Mau. Đây cũng là vùng
khai mở sau cùng trên bản đồ Việt Nam. Có lẽ vì thế nên dấu ấn thời
khẩn hoang vẫn còn in đậm trong tính cách, nếp sống của người nông dân
nơi này. Thời gian càng lùi về quá khứ, không gian càng xa xôi hẻo
lánh, làng xóm càng nghèo khó thì tết “cây nhà lá vườn” càng đậm đặc.
Nhiều gia đình nghèo quanh năm thiếu trước hụt sau,
nhà của họ là một căn nhà lá tạm bợ cất trên bờ kênh. Tết là dịp quan
trọng bậc nhất trong năm nên họ đã có ý thức chuẩn bị từ mấy tháng
trước qua việc nuôi gà, vịt, trồng cây trái và cả việc chuẩn bị củi
đuốc... Đến 23 tháng chạp cúng đưa Ông Táo về trời, dù mùa vụ chưa
xong, lúa còn “ngố” ngoài đồng thì người ta vẫn bỏ hết việc đồng áng mà
quay vào nhà lo tết.
Đầu tiên là sửa sang, trang hoàng nhà cửa, người khá
giả thì đánh bóng tủ, bàn, giường thờ, người nghèo thì mua báo cũ hay
giấy ngũ sắc về dán phòng khách, cắt hoa đèn treo trên phòng khách, cắt
màn cửa, dán liễn đỏ trên bàn thờ. Sau đó mùng mền, quần áo, vật dụng
gia đình đều được giặt giũ, chùi rửa sạch sẽ với quan niệm năm mới mà
nhà cửa mới mẻ sẽ có sự đổi mới, thịnh vượng.
Rồi người ta tát đìa (vùng Cà Mau thì chụp đìa), cá
nhỏ thì làm khô nhậu tết, cá to thì rọng lại ăn tết và nếu còn thừa thì
mang ra chợ bán để góp phần tiền đi chợ tết. Đi chợ tết là để mua những
thứ tối cần thiết mà trong quê không làm ra được như: quần áo, giày
dép, nhang đèn... những thứ còn lại phục vụ cúng kiếng, vui chơi thì đã
có sẵn.
25 tháng chạp làm mâm cơm cúng đưa ông bà xong là cánh
phụ nữ đi chẻ dây, rọc lá chuối đem phơi rồi lựa đậu, nếp đem ngâm, xay
bột để chuẩn bị làm bánh tết. Mấy bà già thì rủ nhau 5-7 người vạn vần
đổi công luân phiên đến từng nhà gói bánh tét, làm bánh bò, bánh da
lợn... Còn mấy cô gái thì cũng cách làm đổi công, họ mang dụng cụ đến
nhà nhau làm mứt, nướng bánh, sinh khí rộn ràng, tiếng cười giòn tan
trong chái bếp nhà quê. Các cô sên mứt dừa, mứt cà, mứt mãng cầu và
nướng bánh bông lan, bánh kẹp, bánh thuẫn.
Chiều 30 tết là cả làng đồng loạt nấu bánh tét. Trong
cái đêm trừ tịch ấy, ai có ra đồng mà ngó về làng mình sẽ thấy ánh lửa
bập bùng đều khắp cả xóm. Quanh bếp lửa ngoài trời ấy có một bà già
thức canh nồi bánh, và một chiếc đệm có lũ trẻ con đói bánh trái nằm
lăn lóc nghe mẹ kể chuyện đời xưa trong không gian có hương bánh tét
nồng nàn đê mê để rồi khi lớn lên, đi xa, chúng mang theo đến cuối cuộc
hành trình cái đêm giao thừa nằm chờ bánh chín.
Các loại bánh tết của các má, các em miệt Hậu Giang
làm rất phong phú về chủng loại và rất ngon không thua bánh chợ, bởi vì
cái sinh hoạt tết được hình thành hàng trăm năm. Quá trình trăm năm ấy
người ta học hỏi, đúc kết để thế hệ này truyền cho thế hệ khác. Đó cũng
là cách các bà mẹ quê dạy con gái về phẩm hạnh của phụ nữ mà không cần
một lớp nữ công gia chánh nào cả.
Đến 28 tết thì nhà nào đó trong xóm làm heo “chia lúa”
và láng giềng sẽ được mời ăn một bữa cháo lòng vào giữa khuya để rồi
hừng sáng 29 tết là cùng nhau nhận thịt chia lúa. Thịt nào cũng vậy, cứ
mỗi ký bằng một giạ lúa được trả vào mùa lúa tới. Người ta mang thịt về
để làm nhân gói bánh tét, chuẩn bị làm cỗ cúng rước ông bà 30 tết và
quan trọng là để kho một nồi thịt kho hột vịt không thể thiếu của mỗi
gia đình.
Ngày 29 tết cũng là ngày nông dân miệt Hậu Giang đồng
loạt “chưng bàn thờ”. Khác hơn ngoài Trung, ngoài Bắc, vùng Hậu Giang
không có nhà thờ họ, mà chủ yếu gia đình, dòng tộc nông dân phân công
nhau thờ phụng những người đã khuất. Thế cho nên phần lớn nhà nông dân
đều có bàn thờ, việc này cũng có cái hay của nó, sự phân công chia nhỏ
ra vừa cho mỗi gia đình có cái bàn thờ riêng mà thể hiện chữ hiếu, vừa
có cái bàn thờ chung để anh em, dòng tộc có cớ lui tới với nhau mỗi khi
giỗ chạp, lễ tết.
Người nông dân Hậu Giang coi việc “chưng bàn thờ” vào
dịp tết là công việc quan trọng bậc nhất. Người khá giả thì chưng một
cặp dưa to, người nghèo hơn chưng một cặp dưa nhỏ. Có người không tiền
thì ra vườn nhà hái dừa tươi, mãng cầu, chuối... chưng lên và trên bàn
thờ ấy họ cũng chưng đủ đầy các loại bánh trái do họ tự làm lấy, với
quan niệm bánh trái càng nhiều thì gia chủ thể hiện được sự hiếu hạnh
và gia đình sẽ sung túc trong năm mới.
Mâm cỗ cúng ngày 30 tết để rước ông bà được người Hậu
Giang làm rất tươm tất, 100% gia đình đều cúng thực phẩm được làm chủ
yếu từ nguồn tự cung tự cấp. Ngày 30 tết có thể nói là ngày sôi động
nhất của năm cũ để đón rước năm mới. Rất nhiều xóm làng khi cúng thì
gia chủ tự nấu nướng và hành lễ, nhưng khi cúng xong thì đó là bữa tiệc
của làng xóm.
Người ta đi thành đoàn dài dằng dặc, hết nhà này đến
nhà khác, cứ nhậu mỗi nhà vài ly mà đi cho kỳ hết cả xóm, đi theo đoàn
ấy có xóm thì có múa lân (đầu lân tự làm), có những người biết đàn ca
vọng cổ xóm làng cứ tưng bừng từ sáng đến lúc giao thừa.
Đến giao thừa thì hoàn toàn chấm dứt để ai về nhà nấy
mà lạy trả nghĩa ông bà vào giờ khắc thiêng liêng của năm cũ và năm mới
chuyển giao. Đó là lúc toàn gia tắm gội sạch sẽ, thay quần áo mới, dọn
bánh mứt, trà rượu và lên nhang đèn rồi lạy mừng tuổi ông bà. Đây là
một cổ lệ được duy trì gần như tuyệt đối ở các xóm làng miệt Hậu Giang.
Sáng mồng 1 tết người ta ra đường đi thắp nhang mừng
tuổi nhà dòng họ, láng giềng. Đây là một cuộc viếng thăm quy mô lớn,
anh đến nhà tôi, tôi đến nhà anh rồi nhậu nhẹt và chúc nhau “Năm mới an
khang thịnh vượng”. Cứ thế mà tết kéo dài...
Giờ đây miệt Hậu Giang kinh tế đã phát triển, đời sống
hiện đại ồ ạt xâm nhập, trong đó có cả những luồng văn hóa xa xôi. Thế
nhưng khi tết về, làng quê vẫn lồ lộ phong vị tết “cây nhà lá vườn”. Đó
là nếp làm bánh, tục lạy ông bà, đi thăm viếng nhau... vẫn được duy trì
đến hôm nay. Đây là sức mạnh của văn hóa và cái văn hóa tết của miệt
Hậu Giang, cũng có thể nói là một “đặc sản” trong văn hóa tết vô cùng
phong phú của người Việt.
(TT)