
|
Pha trà mời du khách
|
Hàng Châu có sản phẩm chè nổi tiếng của Trung Quốc, như chè Thái Nguyên của Việt Nam ta vậy. Nhưng nơi có chè ngon đặc biệt nhất, được tôn vinh là Quốc trà Trung Hoa thì chỉ có từ một làng trồng và chế biến chè trong một thung lũng vây quanh bởi những triền núi. Đó là Mai Gia Thôn.
Xưa kia vào làng phải theo lối mòn vượt sườn núi dốc. Ngày nay Mai Gia Thôn đã được Nhà nước đầu tư mở đường xuyên núi, trải nhựa, ô tô đưa khách du lịch bốn phương vào tận giữa thung chè. Lên lưng chừng núi, ngắm cảnh chiều mùa thu trải nắng trên những mương chè từng đợt cao thấp được xén, tỉa theo từng hàng lối, sao mà thanh bình, thơ mộng! Giữa các mương chè, rải rác theo triền đồi là những ngôi nhà dân như những biệt thự nhà vườn, vây quanh khu vực trung tâm với vài ngôi nhà tầng mang dáng dấp công sở.
Dân ở đây đã trồng và chế biến chè từ lâu đời, nhưng đến bây giờ cả Mai Gia Thôn cũng chỉ có hơn một trăm gia đình. Tại nhà đón khách của làng có đặt trang trọng tượng thờ Lục Vũ, vị Thánh trà của Trung Hoa, đời Đường. Tại đây khách tham quan được thưởng thức chè làng Mai, pha mời mỗi người một cái tách riêng, chứ không pha chung vào ấm, rót ra chén như thông thường. Người làng cho hay chè Mai Gia Thôn thơm ngon bởi cây chè mọc trong thung lũng có khí hậu mát mẻ quanh năm, không gian lúc nào cũng bảng lảng như sương khói ấp ủ. Chè được tưới từ những giếng đào, nguồn nước và thổ ngơi nơi này có chất vi lượng đã tạo nên hương vị đặc biệt riêng không nơi nào có được. Xưa người ta chỉ quen gọi là Chè Thơm. Đời nhà Thanh, vua Càn Long đã vượt dốc núi vi hành đến làng Mai “ngự trà” hái vào đầu xuân được pha với nước giếng làng. Cảm nhận hương vị tuyệt vời của những cánh chè, ông ta đã đổi tên Chè Thơm thành chè Long Tỉnh (Giếng Giồng).
Nhưng không phải đến đời Càn Long nhà Thanh chè Mai Gia Thôn mới được là Quốc trà. Qua các triều đại phong kiến cho đến chính quyền Nhà nước Trung Quốc bây giờ đều quy định dân ở đây đóng thuế bằng chè. Làng Mai rất giàu có, chỉ với hơn một trăm gia đình làm chè mà có hai ngân hàng đặt chi nhánh giao dịch ở đây. Vào thăm xưởng chế biến, người làng Mai cũng sao sấy chè bằng những chảo gang nhỏ, nhưng không còn dùng than, củi mà bằng điện, có điều tiết nhiệt độ theo chu trình. Tất nhiên ngoài yếu tố thổ ngơi, chè “lên hương” là ở khâu chế biến sao tẩm mang tính chất bí truyền. Những cánh chè ở đây không xoăn xoăn như chè của ta, mà rời ra từng phiến nhỏ, phẳng bóng, đưa lên miệng nhấm, cánh chè giòn khô, vị chè dìu dịu thôi, không giàu chất ta nanh gây cảm giác “săn lưỡi” như chè Thái Nguyên. Mới nhấp ngụm chè thì thấy không có gì đặc biệt, nhưng sau đó mới nhận ra dự vị mãi trong cổ họng. Đang mệt mỏi bởi đường trường bỗng cảm thấy tỉnh táo và sảng khoái. Đặc biệt là có uống chè đặc cũng không gây mất ngủ. Chè làng Mai còn được chế biến thành món ăn, hoặc là vị thuốc chính trong bài thuốc thanh nhiệt…
Dẫu đã rất ấn tượng khi thưởng thức tách trà, nhưng tôi cũng nghĩ đây chưa hẳn đã là loại chè ngon nhất. Vì khách tham quan, liên tiếp đoàn đến đoàn đi và chè ngon cỡ nào còn tuỳ thuộc vào thu hái theo mùa. Tuyệt vời nhất là lứa chè hái đầu xuân, trước tiết Thanh Minh, dân làng gọi là chè Hoàng hậu, chè Cô nương. Chè hái tháng ba, sau tiết Thanh Minh hương vị đã có phần giảm sút, gọi là chè Cô dâu. Sang tháng tư đã là chè Bà già… Đó là cách phân biệt phẩm cấp chè theo cách nói vui dân dã của người làng Mai.
Tôi mua một hộp chè nhỏ, có lẽ khoảng non nửa lạng mà giá tròn 100 tệ (hơn hai trăm nghìn đồng tiền Việt). Đây là chè Hoàng hậu, Cô nương, hay chè Bà già? Tôi trả tiền và hỏi cô bán hàng qua phiên dịch, cô nhoẻn cười không nói. Tôi cũng hiểu, dẫu giá tiền cũng khá cao, nhưng chắc không phải là hạng đầu bảng. Vì chè ngon nhất chắc đã dành để đóng thuế rồi.
LẠI NGUYỄN