Trước hết nói về bài thơ Nôm được coi là vào loại sớm nhất của thơ Nôm Việt Nam, ra đời vào thời Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254-1334), vị Phật tổ thứ 3 của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, từng nhiều năm tu ở chùa Thanh Mai, Hải Dương, chùa Hoa Yên, Quảng Ninh. Bài thơ như sau:
Vằng vặc trăng mai ánh nước
Hiu hiu gió trúc ngâm sênh
Người hòa tươi tốt, cảnh hòa lạ
Mâu Thích Ca nào thuở hữu tình
Đã có hàng chục tác phẩm khảo cứu, phê bình, giới thiệu... chép lại bài thơ này và tuyệt nhiên không có một chữ nào in khác nhau nghĩa là in hoàn toàn như nhau và đều không có đầu đề. Thế là chuẩn xác. Ngay cả thời điểm ra đời của nó là thời Trần cũng chuẩn xác. Viết ở thời sơ khai của thơ Nôm Việt Nam mà viết nhuần nhị được như thế này là rất hiếm, phải là thơ của người có chân tài. Hiện nay có những bài thơ Nôm được coi là của thời Trần như bài Văn tế cá sấu của Nguyễn Thuyên (người Thanh Lâm, Hải Dương) Đề núi Mèo (ở xã Yên Đức, Đông Triều, Quảng Ninh) của vua Trần Nhân Tông, đều là ngụy tạo. Đó là thơ của các nhà thơ thời Nguyễn viết khoảng năm 1920 đến trước năm 1930 rồi đề bậy tên các tác giả nổi tiếng để "đánh tráo", hy vọng được tồn tại lâu dài. Tôi nêu thời gian trên là căn cứ vào hàng loạt bài có bút pháp và hơi hướng tương tự như 2 bài trên, được khắc hoặc viết lên vách đá núi, ghi rõ thời gian đó, ở các vách đá thuộc các huyện Kinh Môn (Hải Dương), Thủy Nguyên (Hải Phòng) và Đông Triều, Uông Bí, Yên Hưng và khá nhiều ở TP Hạ Long (Quảng Ninh). Tác giả đều là các quan tri huyện, tri phủ, có người là Tuần Phủ. Ai có am tường thơ cổ, đọc thơ là nhận ra đồ giả ngay. Xin không bàn thêm.
Trở lại với bài Vằng vặc trăng mai... Sở dĩ các bản khác nhau đều in như nhau vì cùng in lại từ văn bản cổ nhất, văn bản gốc, đó là Tổ Gia Thực Lục, được các tác giả bộ Tinh tuyển Văn học Việt Nam (NXB Khoa học xã hội), xác nhận là "văn học chức năng lễ nghi", ra đời từ cuối thế kỷ thứ XIV, sau khi Huyền Quang mất khoảng mới dăm chục năm. Nghĩa là có thể tin được.
Bài thơ liên quan đến nàng Điểm Bích, theo sách trên, thì nàng là "con gái chùa Quỳnh" (Quỳnh Lâm - Đông Triều, trấn Hải Dương), "nõn nà xinh đẹp như Phi Yến, khôn ngoan khéo léo tự Điêu Thuyền" (hai trong bốn "tứ đại mĩ nhân" của Trung Hoa cổ), lại có tài làm thơ ngũ ngôn, "mở miệng là thành bài". Mới 9 tuổi, nàng đã được tuyển vào cung làm nữ quan. Theo kế của "học sĩ Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi", cần thử xem Huyền Quang có đức cao "như gương chẳng bụi mờ" hay không, vua Trần sai nàng đến chùa Vân Yên (Hoa Yên - Yên Tử hiện nay) nơi Huyền Quang đang trụ trì, để quyến rũ bằng được vị sư nổi tiếng đức hạnh này, và dặn rằng, hễ xong việc "quyến luyến", thì "xin bằng được thỏi vàng về đây làm chứng". Kết quả, mọi cố gắng của nàng đều vô hiệu. Cuối cùng, nàng phải bịa chuyện cha nàng, mang vàng đi nộp thuế cho nhà nước, trên đường bị cướp, nếu không có vàng nộp lại thì cửa nhà vợ con phải sung công... Vì vậy Huyền Quang động lòng thương "ban cho vàng cứu nạn".
Khi về thuật lại cho nhà vua, Điểm Bích thưa rằng: "Một hôm, khoảng chừng nửa đêm, sau khi lên điện tụng kinh, tôn sư và đám tăng ni ai nấy đi về phòng riêng nghỉ, thiếp bèn đến cạnh phòng tôn sư, nghe xem động tĩnh thế nào, thì thấy ngài ngâm một bài kệ rằng: Vằng vặc trăng mai ánh nước/ Hiu hiu gió trúc ngâm sênh/ Người hòa tươi tốt, cảnh hòa lạ/ Mâu Thích Ca nào thuở hữu tình. Sư ngâm đi ngâm lại, thiếp bèn bước vào tăng phòng, dâng lời từ biệt xin về nhà thăm cha mẹ... Sư bèn giữ thiếp ngủ lại một đêm, rồi cho thiếp một nén vàng" (Nguyễn Tá Nhí dịch, Tinh tuyển Văn học Việt Nam, tập 3, thế kỷ X - XIV, NXB Khoa học xã hội, 2004, trang 285 - Những chữ in đậm là nguyên văn bản gốc, do tôi nhấn mạnh. TNM).Căn cứ vào lời văn trên, không có cơ sở gì để khẳng định bài kệ Huyền Quang ngâm là thơ Điểm Bích. Theo lẽ thường, tôi cho rằng đó là thơ của Huyền Quang.
Vậy mà không ít nhà khảo cứu, ở Hà Nội và nhiều địa phương, không hiểu bắt đầu từ ai và căn cứ vào đâu, đều nói bài thơ đó là của Điểm Bích và đánh giá rất cao tài năng của nàng ở bài thơ này. Tôi chỉ nói ở Quảng Ninh là nơi tôi hiểu kỹ hơn cả, ít nhất cũng có 6 bài viết, biên khảo, truyện dã sử, truyện danh nhân... đăng báo, in sách, kể cả các công trình khoa học... khẳng định điều đó.
Bây giờ, sau khi đã khảo sát văn bản gốc, tôi thấy cần phải nói lại như trên. Xin các vị cao minh chỉ giáo cho.
TRẦN NHUẬN MINH