Thứ sáu, 25/05/2012 03:16AM
Các ấn phẩm của Báo Hải Dương: Hải Dương hằng ngày phát hành thứ 2, 3, 4, 5, 6, 7. Hải Dương cuối tuần phát hành chủ nhật. Hải Dương hằng tháng phát hành từ 20-22 hằng tháng. Hải Dương Online cập nhật tin tức liên tục trong ngày.
Truyện - tản văn
Phố Hàng Cót của tôi
  26/10/2010 21:21:20 PM

Minh họa: Minh Trí

Tôi sinh ra tại làng Để, huyện Thư Trì, tỉnh Thái Bình, được biết Hà Nội từ những năm ba mươi của thế kỷ trước, khi bố tôi mở một cửa hàng thợ may ở phố Hàng Cót. Gọi là cửa hàng cho sang, thực ra, chỉ kê vài bộ ván gỗ để nằm với một chiếc máy may cũ, y như các quán thợ may ở bất kỳ một chợ thôn quê nào.

Bố tôi vốn là chân Khóa Sinh, có chút vốn liếng chữ Hán không muốn con trai học dốt nên đưa tôi lên cửa hàng để kèm cặp. Bố vừa dạy tôi học chữ quốc ngữ, vừa dạy thùa khuy khuyết để làm đỡ những lúc sẵn việc.

Mãi đến năm lên mười tuổi bố mới xin cho tôi học trường Yên Phụ, cách nhà chừng ba, bốn cây số. Ngày học hai buổi. Sáng đi, trưa về. Chiều đi, tối về. Toàn đi bộ. Nhiều ngày phởn chí tôi còn theo bè bạn đi ngược đường Cổ Ngư, qua chùa Quán Thánh, vòng qua Cửa Bắc rồi mới về nhà.

Tôi yêu phố Hàng Cót như đã từng yêu làng Để của mình nên hay khoe và tự ái khi nghe ai đó chê bai. Làng Để của tôi có nhiều cây gạo cổ thụ, đã to lại cao. Trên ngọn thường có chiếc tổ quạ lớn, không mấy người dám trèo lên bắt quạ non hay phá tổ sợ quạ mổ lòi mắt! Làng tôi còn có một rặng nhãn trên bờ đê. Quả nhãn to như quả ổi. Hạt nhỏ như hạt na, ăn vào mát tận ruột, khỏi hết đau mắt nhức đầu...

Còn phố Hàng Cót của tôi cũng có rất nhiều cây sấu to, mùa đông cũng không trút hết lá, quanh năm xanh mởn. Mùa hè vừa thơm man mác hoa, vừa ngon quả. Tiếng ve ran suốt ngày đêm. Ve lột xác ở dưới gốc, bò lên cây sinh sống. Buổi tối, chúng tôi rủ nhau đi xét ve lột, bắt bỏ bao diêm nuôi để nghe nó kêu. Nhưng chẳng con nào sống sót được vài ngày.

Phố tôi còn là chỗ tàu điện đỗ và tránh nhau. Mờ đất đã nghe chuông tàu điện leng keng, tiếng người ồn ã gọi nhau đưa hàng lên tàu. Thấy tôi khoe những cái hay cái đẹp của phố Hàng Cót thì có thằng bạn bảo:
- Hàng Điếu của tao còn đẹp hơn nhiều. Nhà nào cũng có ống điếu bịt bạc, xe điếu dài hàng thước, hút ròn tanh tách.

Tôi bác liền:
- Hút thuốc lào chỉ tổ ho lao chứ báu gì. Thế phố mày có tàu hoả chạy qua không, có trường học con gái không!

Khi tôi đưa ra cái "trường con gái" đứa nào cũng tịt. Đúng là chỉ Hàng Cót mới có. Thời ấy con trai con gái học riêng. Trường cao hai tầng, rất đông học trò.

Tôi còn khoe: Hàng Cót là phố giàu nhất nên mới nhiều cót như vậy. Tôi căn cứ vào làng tôi, nhà nào nhiều cót là nhiều thóc gạo, như các ông Lý Bá, ông Trưởng Nhạc, ông Phó Trinh... mỗi mùa hàng chục lá cót để quây thóc... Nghe tôi nói thế bọn bạn ở Hà Nội đều không phản ứng gì, duy chỉ có một đứa nói:
- Phố Hàng Bạc nhà tao rất nhiều vàng bạc mới giàu.

Tôi bảo, làng Để cũng rất nhiều người có khuyên vàng, xà tích, vòng nhẫn... lại nhiều thóc gạo nên giàu hơn!

Ngoài Hàng Cót "tươi đẹp" của tôi, những phố lân cận cũng không kém phần hoành tráng. Đó là phố Hàng Lược, Hàng Đồng, Hàng Mã, Hàng Giấy, chợ Đồng Xuân... Hàng Lược thì có "chùa Tây Đen", vì những người da đen hay đến cầu lễ nên gọi vậy. Gần tết, nơi đây còn bán rất nhiều hoa và cây cảnh. Liền đấy là phố Hàng Giấy, có mấy hiệu sách to. Bố tôi đã mua các tập Văn đàn bảo giám, Truyện Kiều, Mồ Cô Phượng, Thất quốc tranh hùng... cho tôi đọc. Tôi mê văn chương từ đó. Tết ở đấy có nhiều cụ đồ ngồi viết bán câu đối, đại tự. Người mua rất đông. Chợ Đồng Xuân thì tuyệt vời, chả đâu vui bằng. Người lúc nào cũng đông, hàng hoá đầy ắp. Tôi thích diễu qua nơi bán những bát phở gà mỡ vàng ươm, những bát bún ốc béo ngậy, những chiếc nem rán thơm phức... Được ăn thì thỏa thuê biết mấy. Phố Hàng Cót tôi cũng có gánh hàng ông Phở Béo. Thỉnh thoảng bố cho tôi một xu ra mua bát "phở không" (chỉ có nước và bánh phở), ông hàng phở thương hại khoắng muôi xuống đáy thùng múc thêm cho ít cấn. Tôi về đổ cơm nguội vào ăn, ngon tuyệt!

Năm ấy kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng. Chiến tranh nổ ra ở nhiều nơi. Buôn bán, sản xuất đều đình đốn, làm ăn thua lỗ, hàng may của bố tôi cạn dần việc làm, phải bán máy đi, trở về quê cày cấy sinh nhai. Ông gửi tôi đến làm việc cho một hiệu may mà ông chủ vốn là bạn quen, cũng ở phố Hàng Cót. Ông dặn tôi chịu khó lam làm, ngoan ngoãn, đừng đua đòi cờ bạc? Trai gái hư thân. Tôi cúi đầu vâng dạ.

Năm tôi mười bảy tuổi, tay nghề đã khá, tính nết lại hiền nên nhiều người qúy. Ở trước cửa hiệu tôi làm, cứ chiều chiều có một cô gái mang hàng đến bán. Những gióng mía đỏ được róc hết vỏ, những quả bưởi vàng mọng, những đĩa hạt dẻ rang thơm ngậy... Mặt cô tươi tắn, nói cười luôn miệng. Thấy cô dễ tính, đám thợ may thỉnh thoảng ra trêu đùa, tán róc. Nói gì cô cũng cười. Không hờn giận ai. Tôi đến chỗ cô vì mê những đĩa hạt dẻ ngon. Biết vậy, thấy tôi cô kéo chiếc ghế nhỏ:
- Cậu ngồi đây. Em hỏi không phải. Cậu tên là Hoa à?
Tôi bẽn lẽn.
- Vâng. Sao cô lại biết? Tôi chưa biết tên cô?
Cô cười :
- Tên em xấu lắm. Ái! Ái giời ơi, ấy mà!
Tôi cũng cười:
- Cô vui tính nhỉ. Ái là yêu ai bảo xấu.
- Ái là yêu hả cậu. Thế mà em chưa có ai yêu đâu. Còn tên cậu như tên con gái, chả trách cậu hiền là phải. Chết quên mải nói chuyện, chưa lấy hạt dẻ đưa cậu.

Cô lấy dưới thúng ra một chén đầy hạt dẻ rang vàng, vỏ nứt mọng căng:
- Cậu ăn đi. Đây là hạt dẻ chọn. Chỉ bán riêng cho cậu thôi.
Tôi hỏi thật thà:
- Sao lại vậy?
Mắt cô lấp lánh:
- Thế em mới là con dở hơi. Hôm nào em cũng chọn. Cậu đến em mới đưa. Cậu bao nhiêu tuổi rồi?
- Tôi mười bẩy.
- Kém em một tuổi.
Tôi buột mồm:
- Từ nay tôi gọi bằng chị.
- Ấy đừng. Cứ gọi như cũ, hoặc bằng em, em cũng thưa.
Tự nhiên tôi thấy hớn hở trong lòng, hỏi tiếp:
- Có phải quê Ái ở Hưng Yên không?
- Không! Em ở Tứ Kỳ, Hải Dương, làng An Thổ.
- Thế thì càng gần quê Thái Bình tôi. Nếu lạc nhau, đi tìm cũng chóng.
Nét mặt Ái không vui:
- Đi đâu mà lạc? Hai đứa cùng một phố. Cứ đến Hàng Cót là thấy nhau mà.

Từ đấy tình nghĩa thêm sâu đậm. Chúng tôi năng gặp nhau ở chỗ em bán hàng. Cũng từ ấy em hay cho quà tôi. Không có gì lớn nhưng chứng tỏ em quan tâm đến tôi hơn. Em còn mua vé cho tôi đi xem cải lương ở rạp Nhật Tân, Quảng Lạc, Hiệp Thành. Một lần ngồi bên nhau. Em hỏi:
- Cậu có nhất định lấy em không?
- Nhất định!
- Thế thì cậu bảo gia đình đến nói chuyện với bố mẹ em cho có đầu có cuối. Còn cưới xin bao giờ cũng được.
Tuy yêu đương nhưng chưa một lần tôi nghĩ đến cưới vợ nên nói:
- Để tôi về thưa với bố mẹ xem sao.
- Còn xem gì nữa? Cậu một lòng với em. Em quyết chí với cậu là được. Ngừng một lát em thủ thỉ:
- Em định rồi. Nếu chúng mình thành đôi, em có mấy đồng cân vàng sẽ bán đi mua cái máy, cậu mở hàng may, em buôn quanh bán quẩn cũng không sợ túng thiếu đâu cậu ạ.

Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, thực dân Pháp trở lại chiếm đóng Hà Nội. Gia đình Ái đi sơ tán. Tôi về quê tham gia kháng chiến. Năm 1954, giải phóng Thủ đô, tôi về phố cũ tìm lại những kỷ niệm đầu đời và tìm người yêu dấu. Qua nhiều lần hỏi, không ai hay. Thế là hai đứa bặt tin nhau.

Nhiều lần sau này tôi đi tìm nữa. Phố cũ vẫn đây. Hàng sấu già vẫn còn đây. Cây cầu đường sắt vẫn chạy qua đây. Ngôi trường tiểu học ngày xưa có những bậc đá hai đứa đã ngồi tâm sự, dường như vẫn còn nguyên vẹn... Còn em thì đi đâu. Ái ơi!

NGUYỄN VĂN

Các tin khác

 
Thăm dò ý kiến
Theo bạn, tăng viện phí sẽ :
Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh
Chia sẻ gánh nặng chi phí với Nhà nước
Hạn chế tiêu cực trong khám, chữa bệnh
Khó khăn cho bệnh nhân nghèo
Dư luận không đồng tình
Ý kiến khác
 
 
 
Dành cho quảng cáo