Đoàn Nhữ Hài (1280 - 1335)
Đoàn Nhữ Hài sinh năm Canh Thìn (1280), là danh thần đời vua Trần Anh Tông, quê ở làng Hội Xuyên, huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu (nay là xã Gia Tân, huyện Gia Lộc).
Ông được vua Anh Tông phong làm Ngự sử trung tán lúc chưa đầy 20 tuổi. Năm 1303 ông đi sứ sang Chiêm Thành lần thứ nhất, được phong làm Tri khu mật viện sự. Năm 1307, Đoàn Nhữ Hài đi sứ Chiêm Thành lần hai lập được nhiều thành tích về an dân. Năm Tân Hợi (1311), ông cùng vua Trần Anh Tông dấy binh phạt Chiêm Thành. Với tài thao lược, Đoàn Nhữ Hài đã dẹp được quân Chiêm Thành mà không tốn một mũi tên hòn đạn nào. Đoàn Nhữ Hài là vị quan có nhiều công lao lớn với triều đình nhà Trần. Ông mất năm 1335, hưởng thọ 55 tuổi.
Mạc Đĩnh Chi (1280-1350)
Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi sinh năm Canh Thìn (1280), tự Tiết Phu, quê ở làng Lũng Động, huyện Chí Linh (nay là xã Nam Tân, huyện Nam Sách). Năm Giáp Thân (1304) ông đỗ Trạng nguyên, sau đó được ban chức Hàn lâm học sĩ. Ông làm quan qua ba triều vua Anh Tông, Minh Tông và Hiến Tông, thăng đến Tả bộc xạ Đại liêu ban. Tính ông liêm khiết, được sĩ phu trọng vọng và từng đi sứ Trung Quốc hai lần vào năm 1308 và năm 1324. Ông mất năm 1350, thọ 70 tuổi. Đền thờ và phần mộ của ông tại quê nhà.
Chu Văn An (1292 - 1370)
Chu Văn An sinh năm Nhâm Thìn (1292), tên hiệu là Tiều Ẩn, người ở thôn Văn, xã Quang Liệt (nay thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Ông là bậc sư biểu của mọi thời đại và là tấm gương cương trực.
Thuở nhỏ, ông sớm có nghị lực, chuyên cần học tập, nghiêm khắc sửa mình, không màng danh lợi. Khi trưởng thành thi đậu Thái học sinh (tiến sĩ) nhưng không ra làm quan, ở nhà đọc sách dạy học. Vua Trần Minh Tông (1314 - 1329) thấy ông là người có tài, thanh liêm mẫu mực đã mời là Tư nghiệp Quốc tử giám.
Đến đời vua Trần Dụ Tông, ông dâng sớ chém 7 tên quyền gian, vua không nghe nên ông treo ấn từ quan, về núi Phượng Hoàng thuộc xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương dựng nhà dạy học, làm thuốc chữa bệnh, làm thơ, viết sách và đặt tên mình là Tiều Ẩn. Năm 1370, ông mất, được vua Trần Nghệ Tông ban tên thụy là Văn Trinh, hiệu Khang Tiết, thờ ở Văn Miếu.
Ngô Hoán (1460 - 1528)
Ngô Hoán sinh năm Canh Thìn (1460), là Văn thần đời Lê Thánh Tông, ông người làng Thượng Đáp (tục gọi làng Hóp), huyện Thanh Lâm (nay là xã Nam Hồng, huyện Nam Sách).
Từ thuở nhỏ ông đã thông minh và hiếu học. Năm Canh Tuất (1490), ông đỗ bảng nhãn, làm Hiệu thư trong tòa Đông các và dự vào số 28 người trong hội Tao Đàn do Lê Thánh Tông thành lập. Trải 4 triều vua, ông làm đến Thượng thư Bộ Lại. Năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung cướp ngôi, ông theo Lê Chiêu Tông chống lại, binh bại phải chạy đến châu Lang Chánh. Ông mất năm 1528, thọ 68 tuổi.
Nhà Lê trung hưng, ông được truy tặng Suy trung công thần, gia phong là Phúc thần.
Vũ Dương (1472 - ?)
Vũ Dương sinh năm Nhâm Thìn (1472), không rõ năm mất, là danh thần đời Lê Thánh Tông, quê làng Mạn Nhuế, huyện Thanh Lâm (nay thuộc thị trấn Nam Sách).
Năm Quý Sửu (1493), ông đỗ Trạng nguyên, làm đến Thượng thư Bộ Công và từng đi sứ Trung Quốc nhiều lần. Ông là thành viên của hội Tao Đàn do Lê Thánh Tông thành lập.
Phạm Quý Thích (1760 - 1825)
Phạm Quý Thích sinh năm Canh Thìn (1760), tại xã Hoa Đường, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang). Về sau ông ngụ cư ở phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương, thành Thăng Long (Hà Nội).
Năm Kỷ Hợi 1779 niên hiệu Cảnh Hưng 40 đời Lê Hiển Tông, ông đỗ tiến sĩ Thịnh khoa, làm đến Thiêm sai Tri công phiên. Khi nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Bắc ông lên Kinh Bắc (Bắc Ninh) ở ẩn. Gia Long lên ngôi (1802) vời ông ra. Năm Đinh Mão (1807), ông làm Giám thị trường thi Kinh Bắc. Năm Gia Long thứ 10 (1811), ông được vời vào kinh chuyên việc chép sử. Năm Quý Dậu (1813), ông làm Giám thị trường thi Sơn Nam. Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), ông về nhà dạy học, lại có chiếu gọi ra làm quan, ông nhất định từ chối. Ông mất ngày 29-3 năm Ất Dậu (16-5-1825), thọ 65 tuổi.
Nguyễn Lương Bằng (1904 - 1979)
Nguyễn Lương Bằng sinh năm Giáp Thìn (1904), tại xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện. Ông là nhà cách mạng lỗi lạc, bí danh Sao Đỏ, được các đồng chí của ông xem như Anh Cả.
Năm 1925, ông gặp Bác Hồ ở Quảng Châu (Trung Quốc) và bắt đầu hoạt động cách mạng. Trong 20 năm hoạt động (1925 - 1945), ông bị địch bắt nhiều lần và hai lần vượt ngục. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 ông liên tục giữ các nhiệm vụ: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam tại Liên Xô, Tổng Thanh tra của Chính phủ, Phó Chủ tịch nước...
Ông được Đảng, Nhà nước ta và các nước xã hội chủ nghĩa anh em tặng nhiều Huân chương cao quý. Ngày 20-7-1979, ông mất tại Hà Nội, thọ 75 tuổi.
MINH NAM