Năm 1952, ở nhà tù Phú Quốc có một số tù chính trị quê ở huyện Thanh Hà, lấy tên là nhóm tù T. H. Bị giam cầm nên anh em tù ở đây rất khao khát tình hình kháng chiến ở quê nhà. Biết được điều đó nên một chiến sĩ của ta ở hậu phương đã viết một bức thư gửi vào trong tù thông báo tin tức quê hương. Địch kiểm duyệt gắt gao nên thư chỉ có thể viết với nội dung quan hệ tình cảm gia đình. Thư được gửi tới anh em đảo tù, nội dung như sau:
"Kính gửi cậu Chính... Báo tin tình hình quê nhà cho cậu biết ông Lái Hương và chú Xã Cổ bị ốm nặng không đi lại được. May mà được bà Cụ và cô Ta về giúp đỡ. Còn anh Cập không may bị đạn què mất một chân, túng quá đến nỗi nhẫn vàng cũng phải bán. Cụ Hà hiếm hoi được một anh Đông không may bị chết, thế là cả gia đình ta tuyệt vọng…".
Nhận thư, cả nhóm tù đọc mà chưa hiểu. Tra từng người xem có ai quan hệ với ông Lái Hương, chú Xã Cổ, ai liên quan đến bà Cụ, cô Ta và anh Cập, rồi cụ Hà, anh Đông là ai? Tất cả đều lắc đầu. Tuy nhiên, chỉ sau một đêm, mật mã bức thư bắt đầu được hé lộ. Anh em tù bắt đầu lắp ráp nội dung. À, ra ông Lái Hương, chú Xã Cổ là bốt Hương, bốt Cổ Chẩm. Bà Cụ và cô Ta là máy bay của Pháp. Anh Cập là hai thôn Cập Nhất và Cập Thượng. Nhẫn vàng chắc chắn là bốt Vàng Xá, còn cụ Hà và anh Đông không thể khác là khu Hà Đông của huyện.
Và rồi, lời văn bức thư được dịch ra như sau: Báo tin tình hình quê nhà cho các đồng chí được biết:
“Báo tin tình hình quê nhà cho các đồng chí được biết: Bốt Hương và bốt Cổ Chẩm hằng ngày địch nã đạn, khống chế cả 2 vùng Hà Nam, Hà Bắc của huyện vừa bị bộ đội chủ lực kết hợp dân quân du kích tập kích bất ngờ. Họng pháo của địch bị tê liệt. Địch chết và bị thương khá nhiều. Tuy được máy bay bà già và máy bay Cô-ta tiếp tế, chỉ điểm nhưng bọn địch ở hai bốt này vẫn hoang mang, lo sợ đến phát ốm, không dám mở các đợt càn mà chỉ cố thủ trong khu vực bốt. Ở xã Tiền Tiến có 2 bốt Tây và bốt Dõng đóng ở Cập Nhất và Cập Thượng như hai chân khống chế toàn bộ khu Hà Tây của huyện thì bị ta xoá sổ một bốt, coi như bị què mất một chân nên địch không còn ngông nghênh được nữa. Túng thế, quân địch phải tung hỏa lực từ bốt Vàng Xá ra nhằm uy hiếp lực lượng ta. Tuy nhiên, bốt Vàng Xá sau đó cũng bị ta tấn công nên thất thủ. Còn ở khu Hà Đông chúng dùng lực lượng đóng quân ở bốt sông Gùa, khống chế toàn bộ 6 xã đảo. Chúng cho rằng 6 xã đảo chỉ cần một bốt là đủ nên chủ quan. Khi ta mở đợt tấn công, mấy đại đội ở bốt này đầu hàng nhanh chóng, như vậy khu Hà Đông được hoàn toàn giải phóng”.
Những người con quê hương Thanh Hà ở nhà tù Phú Quốc giải được thư mật mã, biết tin tình hình quê nhà thắng lớn nên mừng vui khôn xiết, càng tăng niềm tin sắt đá vào cuộc đấu tranh giải phóng.
Mọi người sau đó ai cũng thuộc lòng bức thư mật mã. Nhưng ai là người viết bức thư mật mã này. Lúc đó thì chưa ai biết. Anh em chỉ suy đoán rằng lời lẽ như vậy đó chỉ có thể là người hoạt động tình báo.
Cho mãi đến năm 2004, khi đại tá công an Nguyễn Duy Ngữ, quê ở Thanh Lang, Thanh Hà được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thì bức thư mật mã kia mới được tiết lộ. Ông và đồng đội ông đều nói: Có viết như thế, thư mới được chuyển vào trong tù cho các đồng chí mình.
Năm 2008, ông Ngữ qua đời, những người tù chính trị năm xưa rưng rưng nước mắt đọc lại bức thư mật mã như một lời điếu còn vọng tinh thần dũng cảm và tài vận dụng ngôn ngữ mật mã của ông cũng như tài suy luận của những người tù Phú Quốc.
TIÊU HÀ MINH