Chủ nhật, 12/02/2012 13:55PM
Trang nhấtChuyên trang văn nghệ
Tiếng ViệtEnglish
Từ ngày 08-01-2011, Báo Hải Dương phát hành hằng ngày với các ấn phẩm: Hải Dương hằng ngày và Hải Dương cuối tuần. Báo Hải Dương hằng tháng phát hành từ 20-22 hằng tháng. Báo Hải Dương Online cập nhật tin tức liên tục trong ngày !
Hải Dương dưới triều Nguyễn (1802 - 1883)
  02/03/2010 17:52:54 PM
Thời  Nguyễn (Gia Long), Hải Dương gọi là trấn Hải Dương. Trải qua hơn 80 năm dưới thời Nguyễn (1802 - 1883) Hải Dương là cửa ngõ phía đông quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tháng 5-1802, Gia Long chiếm Bắc Hà, triều Nguyễn xác lập lãnh thồ thống nhất từ Nam ra Bắc. Triều Nguyễn kéo dài 143 năm, tử năm 1802 đến tháng 8-1945. Khác với các vương triều trước đó triều Nguyễn đặt kinh đô tại Phú Xuân (Huế). Dưới thời Nguyễn, hệ thống tổ chức và bộ máy hành chính không ngừng được kiện toàn từ trung ương đến địa phương, đặc biệt là sau cải cách dưới triều vua Minh Mạng (1820-1840).

Đầu triều Nguyễn (Gia Long), Hải Dương gọi là trấn Hải Dương (cả nước có 23 trấn và 4 doanh). Hải Dương vẫn là xứ Đông phên dậu, là cửa ngõ phía đông của miền Bắc Việt Nam (trấn Hải Dương khi ấy gồm cả thành phố Hải Phòng ngày nay). Công việc đầu tiên của triều Nguyễn là chuyện ly sở từ Mao Điền về Hàn Giang, đặt tại ngã ba sông Thái Bình và sông Kẻ Sặt. Công việc này bắt nguồn tử 2 nhân vật quan trọng thời đó là: Phạm Đình Hổ và Trần Công Hiến.

Phạm Đình Hổ là quan đại thần triều Nguyễn, khi về thăm quê ở Bình Giang, ông tới thăm trấn sở Mao Điền và nhận xét: Định đô, đặt trấn mà chỉ lấy cho gần nơi thanh viện, tiện việc chạy trạm, không để ý đến công thủ sau này thì sao có thể khống chế được sơn hải, bảo vệ cho chốn bang kỳ được.

Trấn thủ Trần Công Hiến khi tiếp vua Gia Long ra Bắc Kỳ lần thứ hai để tiếp sứ nhà Thanh đã tấu trình: Dòng nước sông Hàm Giang phía đông chảy xuống Đông Quan, phía nam chảy xuống Sơn Nam,  xin dựng đồn Thủy Đô để đóng hương binh mà phòng sự hoãn cấp ...

Vì vậy, đầu năm 1804, vua Gia Long đã quyết định di trấn Hải Dương về phía đông 15 km, đặt trên ngã ba sông Kẻ Sặt và sông Thái Bình, tại địa phận xã Bình Lao, Hàn Giang, Hàn Thượng. Vì thế trấn Hải Dương còn gọi là trấn Hàn. Đây là vùng ngã ba sông nước mênh mông có lợi thế như một "quân cảng". Các trận luyện tập thuỷ chiến quanh vùng thường chọn cửa sông này làm nơi thao diễn, thuyền chiến có lúc tập trung tới hàng trăm chiếc, mặt sông thuyền binh san sát như lá tre.

Đầu năm 1804, trấn thủ Trần Công Hiến là người thực thi việc rời trấn sở từ Mao Điền về Hàn Giang. Thành xây theo thiết kế của kỹ sư người Pháp, Vauban (Vôbăng), hình lục giác đều, chu vi 551 trượng (2.204 in), cao 1 trượng 1 thước 2 tấc. Thành có 4 cửa: đông, tây, nam, bắc. Cửa đông nằm trên đường Hoàng Hoa Thám nhìn ra phố Đông Môn, nay là Phạm Hồng Thái. Ngoài thành có hào rộng 11 trượng, sâu 6 thước. Cửa nam là cửa chính, trong có cột cờ, dinh tổng đốc, sở bố chánh và có hành cung. Bên phải hành cung là sở lãnh binh coi việc quân sự. Bên trái là sở án sát coi việc hình sự.

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), thực hiện phân định lại các khu vực hành chính trong cả nước, trấn Hải Dương đổi thành tỉnh Hải Dương. Vì tỉnh Hải Dương ở về phía đông kinh thành Thăng Long nên còn gọi là tỉnh Đông. Thành của tỉnh Đông (Hải Dương tỉnh thành) còn được gọi là thành Đông.

Quan, quân triều Nguyễn chiến đấu chống thực dân Pháp bảo vệ Thành Đông (ngày 11-11-1883)

Hải Dương tỉnh thành là một trung tâm hành chính, quân sự. Quan quân trong thành có chừng 3 cơ binh, khoảng 1.000 người. Đây là toà thành thuộc loại tiên tiến lúc bấy giờ, có khả năng công, thủ toàn diện.

Sau khi có thành Đông, do nhu cầu cuộc sống, người nhà quan, quân, binh lính, người buôn bán, thợ thủ công... quần cư, làm ăn, sinh sống đông dần lên ở phía đông nam thành ven sông Kẻ Sặt Dân cư tập trung thành từng khu vực chòm, xóm nhỏ, phát triển thành Các giáp (đơn vị hành chính cơ sở) tương tự như thôn, rồi lớn rộng dần, kết liền thành một trung tâm dân cư đông đúc kéo dài từ đất Đông Mỹ (khu vực phố Đông Mỹ) chạy theo ven sông Kẻ Sặt tới giáp Tự Tân (Tam Giang). Trung tâm dân cư đó gọi là Đông Kiều phố (phố theo từ điển Hán - Việt là nhà cửa, cửa hàng buôn bán. Đông Kiều là phía đông cầu). Đông Kiều phố là trung tâm dân cư, tiền thân của thành phố Hải Dương ngày nay. Đông Kiều phố có các giáp: Đông Kiều, Đông Giàng, Đông Thị, Đông Quan, Đông Mỹ, Đông Thuần, Đông Hoà. Những dãy phố cổ nhất Hải Dương còn dáng dấp đến ngày nay như: phố Hàng Giầy, Hàng Bạc, Hàng Đồng, Hàng Lọng, Đông Giàng, Tam Giang...

Người Trung Quốc di cư sang làm ăn, sinh sống,  tập trung ở phố Khách (sau gọi là phố Bắc Kinh), nay là phố Minh Khai.

Như vậy, năm 1804, vua Gia Long cho rời ly sở từ Mao Điền về Hàn Giang, sau đó hình thành Đông Kiều phố, đó là sự khởi lập thành phố Hải Dương ngày nay, thủ phủ của tỉnh Hải Dương trên 200 năm qua.

Công lao của vị trấn thủ đầu tiên của tỉnh Đông, Trần Công Nhiên, không chỉ có sự khởi lập thành Đông mà sau đó ông còn có công chấn hưng nền văn hoá, giáo dục và phát triển khoa học công nghệ thời kỳ đầu thế kỷ XIX. Ông sáng lập Hải Học Đường, nhà in, nhà xuất bản sách Hán Nôm đầu tiên của tỉnh Hải Dương và cũng là một trong những nhà xuất bản sớm nhất trong khu vực.

Trấn thủ Trần Công Hiến là người giàu nhiệt huyết với nền văn chương thư tịch nước nhà. Ông đã cống hiến cho kho tàng văn học Việt Nam một khối lượng đáng kể những tác phạm với nhiều thể loại đặc sắc, cả sáng tác và sưu tầm, khảo đính tác phẩm cũ. Cùng với Trần Công Hiến còn có một đội ngũ trí thức giàu nhiệt huyết, có trình độ hiểu biết, có tri thức sâu rộng như: trợ giáo Trần Đạm Trai, đốc học Trung Chính Bá, trợ giáo Thời Bình Nam, phong cốc giám sinh Bùi Dã Sĩ ... Họ có thể "chỗ rườm rà thì bỏ bớt, chỗ thiếu sót thì bổ sung"; "phàm những gì có liên quan tới việc làm sáng tỏ văn nghĩa, phân biệt đúng, sai đều không dám bỏ qua" (theo Sử tập toàn yếu).

Hải Học Đường đã huy động các thuộc quan trong trấn và trí thức địa phương cùng tham gia: "Mỗi khi việc công nhàn rỗi, hỏi thăm khắp các thuộc quan phủ, huyện cùng các vị hương cống mới, cũ trong trấn xem có những di cảo còn sót lại..., (theo Danh thi hợp tuyển).

Hải Học Đường đã sưu tầm được những tác phẩm văn thơ nồi tiếng của các tác giả từ thời Trần đến đầu thời Nguyễn như Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn, Phạm Nguyễn Du, Phan Huy Ích, Phạm Quý Thích. Có tác giả tuyển chọn được một phần, có tác giả sưu tầm được gần như toàn bộ tác phẩm như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phạm Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm (thời vua Quang Trung), khi làm đốc đồng ở Hải Dương đã viết Hải Dương chí lược ghi tóm tắt về Hải Dương. Đến Hải Dương phong vật chí của Hải Học Đường thì vùng đất văn hiến này đã được ghi chép đầy đủ hơn: từ núi, sông, nhân vật, phong tức, thổ nghi cho tới bách công kỹ nghệ đều mô tả kỹ càng.

Đặc biệt là tài liệu phục vụ cho việc khoa cử, Hải Học Đường đã sưu tầm, biên soạn khá nhiều sách như: Ứng chế tứ lục tuyển, Hoành Lê ứng chế thi hếch khoa sách lược, Danh phú hợp tuyển, Danh văn tinh tuyển... Trong đó gồm nhiều thể loại dùng làm mẫu để giảng dạy, phục vụ cho thi cử từ thơ, phú, dụ minh, luận, tụng đến tứ lục văn sách.

Hiện nay, trong thư viện nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ 12 ấn phẩm của Hải Học Đường như: Đại Việt thuỷ lục trình ký, Lịch đại sú toàn yếu, Cố Lê tư trung văn thể, Danh phú hợp tuyển...

Trong số hơn 300 nhà xuất bản có tên ghi trong kho sách Hán Nôm thì Hải Học Đường là một nhà xuất bản đa dạng và phong phú về thể loại. Lợi thế của Hải Học Đường là có phường khắc gỗ Hồng Lục Liễu Tràng, đã huy động được những thợ khắc ván, in sách lành nghề, tài hoa tại địa phương cho nên sách xuất bản tại Hải Học Đường đạt cả nội dung và hình thức.

Hải Học Đường hoạt động từ năm 1804 đến năm 1817 khi Trần Công Hiến qua đời và sau cải cách hành chính năm 1831, Minh Mạng đặt các liên tỉnh do quan tổng đốc đứng đầu. Khi Phạm Phú Thứ nhận chức Tổng đốc Hải Yên (Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Yên) rồi Tổng lý thương chánh đại thần, ông cho khôi phục nhà xuất bản Hải Học Đường để khắc in một số sách được biên thảo hay phiên dịch ở Trung Quốc như sách nói về công pháp quốc tế, kỹ thuật hàng hải, khoa học phổ thông, phương pháp khai thác than đá... để phổ biện rộng rãi trong nước.

Về kinh tế, sau khi chiếm Bắc Hà, thống nhất giang sơn, nhà Nguyễn rất quan tâm đến phát trien kinh tế nông nghiệp, tập trung vào việc khai khẩn đất hoang hoá, chiêu tập dân lưu tán do chiến tranh cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX để lập ấp, phân phối lại ruộng đất, ổn định cư dân, phát triển sản xuất. Nhà nước coi đây như một giải pháp quan trọng nhằm ổn định tình hình kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, do nhận thức không nhất quán về vấn đề trị thuỷ ở đồng bằng Bắc Bộ gây ảnh hưởng không nhỏ và kéo dài đến việc phục hồi đời sống nông dân vốn là thành phần chiếm đa số trong xã hội thời kỳ đầu thế kỷ XIX. Tư liệu lịch sử cho biết đã từng có cuộc tranh cãi kéo dài hơn nửa thế kỷ trong triều Nguyễn về đê điều vùng đồng bằng Bắc Bộ là lợi hay hại, nên giữ đê hay bỏ đê? Do nhận thức chưa nhất quán như vậy nên biện pháp của triều đình cũng tỏ ra không dứt khoát. Một mặt nhà Nguyễn vẫn cho bồi trúc, gia cố đê điều nhưng mặt khác cũng đã từng thử nghiệm bỏ đê ở một vài địa phương. Hậu quả là đã tác động hết sức tiêu cực đến nền sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Từ năm 1805 đến năm 1834 (29 năm), sách Đại Nam thực lục chính biên đã 10 lần nhắc đến Hải Dương về nạn lụt do vỡ đê gây đói kém, dân phải siêu tán kiếm ăn, nạn đói khủng khiếp.

Báo cáo của công sứ Miribel: trong 85 năm đầu thế kỷ XIX đã mất 10 vụ chiêm, 34 vụ mùa. Như vậy 25% số thu hoạch bị mất do thiên tai gây ra. Mất mát như vậy là quá lớn so với mức thu nhập ít ỏi của nông nghiệp tự cấp, tự túc.

Công thương có bước phát triển nhất định nhưng vẫn còn chậm chạp, mang nặng tính bảo thủ. Những nghề thủ công truyền thống vẫn duy trì và phát trien chậm. Nghề đóng giầy, nghề vàng bạc, nghề đúc đồng, nghề gốm sứ, nghề mộc, nghề rèn . . . được duy trì cho đến đầu thế kỷ XX. Phố Hàng Lọng ở Đông Kiều phố có nhiều thợ làm lọng phục vụ quan lại địa phương, tồn tại đến năm 1930. Nghề rèn, đúc phục vụ nông nghiệp như cuốc, xẻng, lưỡi cày. răng bừa,  liềm, dao, lưỡi hái... vẫn sản xuất thủ công nghiệp bằng phương pháp thủ công thô sơ cho tới sau năm 1945.

Hệ thống chợ phát triển rộng, các làng xã hầu hết đều có chợ để trao đổi, mua bán hàng hóa nông sản rau, quả, tôm, tép, cá... theo lối tự cấp, tự túc. Những chợ lớn như chợ Hàn Giang ở Đông Kiều phố, chợ Cuối ở Gia Lộc, chợ Thiên ở Chí Linh, chợ Yên ở Tứ Kỳ, chợ Hương ở Thanh Hà... có nhiều hàng hóa hơn, buôn bán cả trâu, bò, gà, lợn, lâm thổ sản, nhưng đều là hàng nội địa (không có hàng ngoại) do chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Nguyễn.

Sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp trên thực tế không được triều đình nâng đỡ. Trái lại, chính sách thuế khóa nặng nề và phiền phức đã trở thành một nhân tố kìm hãm sự phát triển của công thương nghiệp trong những năm ở thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX.

Về xã hội, tỉnh Hải Dương dưới triều Nguyễn luôn luôn ở trong tình trạng xã hội không ồn định, là hậu quả của nhiều nhân tố như chính sách cai trị, thực trạng nền kinh tế luôn bị thiên tai gây hại: bão, lụt úng, hạn hán, vỡ đê... và đặc biệt là xã hội đã nảy sinh tầng lớp cường hào ở nông thôn, thao túng, nhũng nhiễu xã hội đúng như Nguyễn Công Trứ đã nhận xét: "... cái hại cường hào làm cho con người ta thành mồ côi, vợ người ta thành góa bụa, giết cả tính mạng người ta... chỗ nào chúng cũng cùng nhau anh chị, chuyên lợi làm giàu, dối cả quan trên đe thỏa lòng riêng".

Triều Nguyễn đã có biện pháp kiểm soát, khắc phục nhưng không mấy hiệu quả. Tô, thuế quy định không phải khi nào cũng cao nhưng qua sự thao túng  Của cường hào trở thành phố biến, sưu cao thuế nặng, triều đình hầu như bất lực trước tình trạng "Phép vua thua lệ làng". Nông dân bị đấy vào đường cùng phải rời làng đi thành dân xiêu tán tha phương cầu thực". Hiện tượng dân xiêu tán trở nên rất trầm trọng ở thế kỷ XIX: thời Nguyễn ánh, có kỳ dân Hải Dương xiêu tán 370 thôn xã; thời Minh Mạng có lúc toàn tỉnh dân xiêu tán 13.000 người.

Dưới triều Nguyễn, các cuộc nồi dậy chống lại triều đình diễn ra liên tục trên địa bàn tỉnh dù rằng trên thực tế không phải tất cả các cuộc nồi dậy đều là phong trào xã hội hay khởi nghĩa của nông dân mà có cả hoạt động của thổ phỉ, trộm cướp v.v ...

Những cuộc nổi dậy của dân chúng chống lại ách áp bức, bóc lột của cường hào, lý dịch, chống lại chính sách cai trị vừa hà khắc, vừa bảo thủ của triều Nguyễn đã tỏ rõ sự bất bình trước tình trạng đói kém triền miên, cuộc sống cơ cực từ đời này sang đời khác. Cùng với việc nổi dậy của dân chúng trong nội địa, đường thủy từ biển Đông vào kinh đô phải qua hải phận và địa phận Hải Dương, suốt triều Nguyễn, có nhiều lần giặc biển xâm nhập hải phận và tiến sâu vào xâm nhập đất liền. Điển hình như toán giặc Thanh do tên Trường làm chủ mưu đã đánh chiếm vùng Quảng Yên và tiến công bao vây thành Đông. Tỉnh thần dâng thư cấp báo về triều đình. Thế giặc nhiễu nhương ngày càng to. Chúng bao vây thành Đông vài tháng. Quan quân trong thành đóng chặt cồng chờ viện binh đến giải vây. Tự Đức cử tướng Nguyễn Đình Tân làm Hải An Kinh lược sứ, tướng Nguyễn Tư Giản làm Thanh Biện quân vụ đem quân đến đánh giặc giải vây thành Đông. Hai ông ra sức tiến công địch nhưng thế giặc mạnh, hai ông thua trận. Nguyễn Đình Tân phải triệt hồi, Nguyễn Tư Giản bị cách chức. Tự Đức lại cử tướng Trương Quốc Dụng làm Tổng đốc Hải An quân vụ đại thần, Phan Tam Tỉnh làm Hộ lý Tổng đốc đem quân Thanh Nghệ ra đánh. Lại cử quan quân từ Hưng Yên kéo xuống cùng đánh, thu phục được phủ Bình Giang, định tiến lên giải vây thành Hải Dương, nhưng bốn mặt thành đều là ụ súng, hố chông của giặc nên chưa the giải vây được. Sau Trương Quốc Dụng phải dùng mưu, bày trận đến hơn 1 tháng, đánh 2 trận lớn, chém được 450 thủ cấp, bắt sống hơn 100 tên giặc, bấy giờ mới giải vây được thành Đông. Quan quân thừa thắng đánh tràn xuống Nam Sách, Kinh Môn. Quân giặc trốn ra Quảng Yên, chúng còn hơn 500 chiếc thuyền,  kéo ra đóng ở đảo Cát Bà, Đồ Sơn, sau đó gặp bão lớn, thuyền giặc đắm mất nhiều. Quan quân triều đình thấy thế giặc đã núng, bèn mạo hiểm kéo ra ngoài hải đảo là nơi sào huyệt của giặc để đánh. Không ngờ bị giặc đón đánh dữ dội, Đề đốc Quang Tiến, Hộ phủ Huy Phan đều nhảy xuống biển tự vẫn. Tướng Trương Quốc Dụng và nhiều tướng của triều đình tử trận. Tự Đức phải cử Nguyễn Tri Phương đóng quân tại vùng Hải Phòng, dùng kế thu phục nhân tâm sức cho các tổng chiêu dụ người Việt lầm đường đi theo giặc về quê làm ăn, không phân biệt đối xử, lại sử dụng họ, cất nhắc cho làm việc ở thôn xã. Ròng rã bốn năm liền từ năm Nhâm Tuất (1862) đến năm ất Sửu (1865) quân cướp biện tan rã dần. Mất chỗ dựa là người Việt, chúng bị cô lập. Các tướng đều bị bắt sống giải về kinh đô Huế trị tội. Bấy giờ xứ Hải Dương mới yên.

Suốt thế kỷ XIX. đầu thế kỷ XX, kinh tế của Hải Dương cũng như các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng không thể bứt phá ra khỏi sự ràng buộc của kinh tế tự cấp, tự túc khép km. Khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, tiềm lực kinh tế - quân sự của triều Nguyễn không thể chống lại nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đang phát triển ở châu Âu.

Chống thực dân Pháp chiếm thành Đông lần thứ nhất (4-12-1873)


Cửa phía Đông (Đông Môn) của Hải Dương tỉnh thành - Thành Đông ( đã bị thực dân Pháp phá năm 1889)


Thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng và trở nên đặc biệt nghiêm trọng dưới triều Tự Đức. Về chính trị, Tự Đức thi hành chính sách cai trị chuyên chế, hà khắc. Trong nửa đầu thế kỷ XIX, có tới 500 cuộc khởi nghĩa, bạo loạn lớn nhỏ của nông dân. Triều đình cũng thi hành chính sách cấm đoán đạo Gia-tô nghiêm ngặt. Về đối ngoại, thi hành chính sách bế quan tỏa cảng, cấm giao lưu, tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Một số nho sĩ thức thời khi đó, tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ, đã nhìn thấy nguy cơ, kịp thời đưa ra những đề nghị cải cách nhằm cứu vãn tình thế nhưng đều không được chấp nhận.

Trong đầu đề một bài văn của khoa thi Đình nêu vấn đề "Nước Nhật  Bản theo  học các nước Thái Tây mà nên được phú cường. Vậy nước ta có nên bắt  chước không? Nhất loạt các nho sĩ dự thi đều tâu rằng: "Nhật Bản thuở trước vẫn theo văn minh của nước Tầu mà bây giờ thay đổi thói cũ, theo nước Thái Tây, thì dẫu có nên phú cường, về sau này cũng hóa ra loài mọi rợ ". Dựa vào hệ tư tưởng Nho giáo và đám quan lại cố hủ, triều Nguyễn đã thi hành một đường lối hết sức bảo thủ, lạc hậu. Hậu quả là tiềm lực đất nước ngày càng suy yếu, kiệt quệ, tạo điều kiện thuận lợi cho thực dân Pháp kiếm cớ xâm lược nước ta.

Ngày 1-9-1858, vin cớ nhà Nguyễn khủng bố đạo Gia-tô, thực dân Pháp phối hợp với quân Tây Ban Nha, đem tàu chiến đen bắn phá cảng Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta.

Năm 1859, Pháp đã chuyện đại quân  vào Nam Kỳ đánh phá thành Gia Định, sau đó dùng thủ đoạn vừa đánh vừa hòa dần thôn tính 6 tỉnh Nam Kỳ.

Bước sang giai đoạn thứ hai, thực dân Pháp đem quân ra miền Bắc hai lần đánh chiếm thành Hà Nội (1873-1882), từ đó tỏa ra thôn tính một số tỉnh Bắc Kỳ. Thực dân Pháp và triều đình Mãn Thanh thỏa hiệp với nhau nhằm xâu xé nước ta. Nhân lúc triều đình Huế nhu nhược hèn kém, thực dân Pháp đã cho tên thực dân Đuypuy (Jean Dupuis) đóng giả lái buôn, trong năm 1872-1873 liên tiếp gây ra những vụ khiêu khích ở Hà Nội và ven sông Hồng.

Lúc này người Pháp đã có ý đồ xâm chiếm Bắc Kỳ, đang tìm cớ đem quân ra Bắc thì triều đình Huế mở cho Pháp hành động. Ngày 31-8-1873, một phái bộ của triều đình Huế vào Sài Gòn yêu cầu Pháp cử người ra Bắc dàn xếp vụ Đuypuy.  Do đó, Pháp đàng hoàng đưa quân ra Bắc.

Ngày 11-10 1873, thiếu tá hải quân Gácrùê (Francis Gamier) đem 180 quân ra Bắc. Qua Hải Dương lên Hà Nội bằng đường thủy Gácrùê hội quân với Đuypuy, liên lạc với giám mục Puyginiê, tập hợp bọn phản động công giáo đội lốt phe đảng nhà Lê, tuyển mộ ngụy quân, chuẩn bị ngụy quyền.

Ngày 12-11-1873, Gáơliê gửi tối hậu thư cho Tống đốc Hà Nội Nguyễn Tri Phương buộc phải hạ khí giới, giao nộp thành Hà Nội cho chúng vào ngày 18-11.

Ngày 19-11-1873, lại gửi tối hậu thư lần thứ hai. Cả hai lần Nguyễn Tri Phương đều không trả lời mà chỉ tích cực chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Sáu giờ ngày 20-11-1873, quân Pháp nổ súng tấn công thành Hà Nội. Quân dân Hà Nội dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương đã anh dũng chiến đấu bảo vệ thành. Nhưng vũ khí thô sơ không chống nổi với đại bác, thành Hà Nội thất thủ. Con trai Nguyễn Tri Phương là phò mã Nguyễn Lâm tử trận. Nguyễn Tri Phương bị trọng thương, cự tuyệt mọi sự chạy chữa và cám dỗ của kẻ thù, tuyệt thực mà chết.

Sau khi chiếm được Hà Nội, để bảo đảm đường giao thông với biện, Gácniê quyết định chiếm Hải Dương và cử trung úy hải quân Banly (Ban luỵ d'Avricourt) thực hiện nhiệm vụ đó. Chúng định chiếm Hải Dương thông qua thương thuyết nhưng Tổng đốc Hải Dương không chịu tiếp kiến bọn xâm lược.

Ngày 4-12-1873 (tức ngày rằm tháng 10 năm Quý Dậu,  Banly cũng dùng thủ đoạn hạ tối hậu thư song không được trả lời, bèn cho quân đồ bộ lên bờ, nổ súng tấn công thành Hải Dương.

Cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra trong vòng 75 phút. Quan quân địa phương cố gắng chống trả, song pháo thần công và súng kíp nhỏ bị trọng pháo đặt trên tàu chiến đè bẹp. Hải Dương tỉnh thành thất thủ. Quan quân rút khỏi thành, chạy về phía Mao Điền (Cầm Giàng).

Ở Hải Dương, Hộ đốc Lê Hữu Thường, Tuần phủ Đặng Xuân Bảng, Bố chánh Nguyễn Hữu Chỉnh, Án sát Nguyễn Đại, không một ai đi theo địch; cũng không một viên tri phủ, tri huyện nào đầu hàng địch. Địch không lợi dụng được đồng bào tôn giáo, ngay các giáo sĩ Tây Ban Nha ở Hải Dương cũng không tán thành hành động của Pháp ở miền Bắc. Đại bộ phận nhân dân Hải Dương phiêu bạt, lánh nạn về thôn quê, nêu cao tinh than yêu nước, bất hợp tác với Pháp. Lúc này chỉ có một số nhà buôn người Hoa còn ở lại trong thành.

Ngày 22-12-1873, phái đoàn đôi bên đến Hải Phòng rồi đi Hải Dương. Trước sự phản kháng mãnh liệt của quan lại và quân dân các địa phương. nhất là sau khi Gácniê bị chết trận, thực dân Pháp buộc phải rút khỏi một số tỉnh lỵ để tạo điều kiện cho cuộc thương thuyết.

Ngày 31-12-1873, thực dân Pháp buộc phải trao trả thành Hải Dương trước sự chứng kiến của Nguyễn Văn Trường, đại diện triều đình Huế. Triều đình cử Tạ Hiện làm lãnh binh Hải Dương, tiếp quản thành. Tạ Hiện là một người yêu nước,căm ghét thực dân Pháp . Ông đã tổ chức lại bộ máy quân sự trong thành Hải Dương, tuyển mộ binh lính, sửa sang thành trì, sẵn sàng đánh thực dân Pháp. Sau này, Tạ Hiện về làm Đề đốc Nam Định và trở thành thủ lĩnh nghĩa quân kiên cường chống thực dân Pháp, đánh nhau hàng chục trận lớn nhỏ, gây cho thực dân Pháp nhiều thiệt hại.

Chống thực dân Pháp chiếm đóng thành Đông lần thứ hai (19-8-1883)

Sau khi rút khỏi miền Bắc đầu năm 1874, thực dân Pháp ép triều đình Huế ký hiệp ước Giáp Tuất ngày 15-3-1874. Nội dung hiệp ước gồm 22 điều khoản, trong đó triều đình Huế:

- Chính thức công nhận chủ quyền của thực dân Pháp ở lục tỉnh Nam Kỳ.
- Phải thay đồi chính sách đối với Đạo Thiên chúa.
- Phải để giáo sĩ tự do đi lại và truyền giáo.
- Phải mở cửa sông Hồng, các cửa bể Thị Nại (Quy Nhơn), Ninh Hải (Hải Dương).

Thực chất là nhà Nguyễn hoàn toàn bị khuất phục, còn thực dân Pháp thì ra sức tận dụng hiệp ước Giáp Tuất để  chuẩn bị đánh chiếm toàn bộ Việt Nam.

Tháng 12-1881, Chính phủ Pháp gia tăng quân số ở miền Bắc. Tháng 1-1882, Pháp gửi thêm quân viễn chinh sang Việt Nam. Tháng 3-1882, Thống đốc Nam Kỳ phái trung tá hải quân Rivie (Hen ri Rivière) đem 300 quân ra Bắc, đổ bộ lên bãi sông Hồng. Tồng cộng ở Hà Nội, Pháp có 600 quân và 3 tàu chiến.

Ngày 25-4-1882, Rivie tấn công thành Hà Nội, Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu chỉ huy quân và dân Hà Nội chiến đấu anh dũng nhưng không bảo vệ được thành nên đã tuẫn tiết chứ không chịu sa vào tay giặc, sau khi lấy máu viết lời di biểu gửi triều đình. Ông không thể làm gì hơn vì trước kia triều đình không cho phép ông tăng cường binh lực phòng bị Hà Nội vì sợ người Pháp nghi ngờ.

Ngày 19-5-1883, quân triều đình cùng với quân cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc tổ chức trận phục kích lớn ở Cầu Giấy, ngoại Ô Hà Nội. Quân Pháp thua to, 5 sĩ quan vào 28 lính bị giết, Rivie chết trận.

Trước tình thế đó, Pháp quyết tâm chiếm Bắc Việt Nam bằng vũ lực. Ngày 15-5-1885, nghị viện Pháp thông qua quyết định bổ sung 5,5 triệu Frăng chi phí cho chiến tranh ở Việt Nam, điều thêm 4.000 lính Pháp và một hạm đội sang Việt Nam. Quân Pháp ở chiến trường Bắc Việt Nam từ 6.000 năm 1882
tăng lên gần 12.000 năm 1883 và 15.000 đầu năm 1884.

Ngày 19-7-1883, Tự Đức qua đời. Triều đình nhà Nguyễn lục đục về việc suy tôn người kế vị. Đây là một cơ hội rất thuận lợi để Pháp đẩy mạnh xâm chiếm Việt Nam.

Để nối thông bằng đường thủy từ Hà Nội ra biển, tướng Buê (Bouet), người thay thế Rivie, cử quan năm Briôngvan (Brionval) đánh chiếm Hải Dương.

Ngày 15-8-1883. Briôngvan dẫn hai pháo hạm Yatagan và Carabin, hai sà lan, một tàu đồ bộ chở 300 quân từ Hà Nội tiến xuống tấn công thành Hải Dương bằng đường thủy.

Ngày 19-8-1883, Pháp tấn công thành Hải Dương bằng đại bác bắn cấp tập vào thành rồi cho quân đổ bộ. Quân trong thành bắn hỏa pháo, đốt cháy nhà cửa xung quanh để cản giặc, nhưng không hiệu quả. Quân Pháp đập phá các cổng thành và tràn vào thành. Thành Đông thất thủ mà hầu như không có sự kháng cự nào đáng kể. Quan quân triều đình rút chạy về phía Mao Điền, bị quân Pháp đuổi theo, lại rút xa hơn về phía Cẩm Giàng. Sau khi chiếm thành Hải Dương, Briôngvan đặt ách cai trị kiểu quân quản"

Ngày 25-8-1883, triều đình Huế lại ký với Pháp Hiệp ước Hácmăng xác nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc và Trung Kỳ. Pháp thực sự chiếm thành Đông, chiếm đóng tỉnh lỵ  và đặt ách đô hộ kéo dài 62 năm bắt đầu từ ngày 19-8-1883.

(Theo Địa chí Hải Dương)

        In bài viết này
Các tin khác
Giếng cổ bảo lưu huyền sử (12/02/2012)
Côn Sơn - Kiếp Bạc hướng tới di sản văn hóa thế giới (08/02/2012)
Đâu bến Bình Than? (07/02/2012)
Lấy kinh sử “làm búa rìu” cai trị muôn dân (03/02/2012)
Đậm đà ẩm thực Hải Dương (02/02/2012)
Rừng phong chốn đất thiêng (25/01/2012)
Hoài niệm hương vị tám xoan (24/01/2012)
Sự tích ông Sộp, bà Dựa (15/01/2012)
Phát hiện khảo cổ bất ngờ ở Quang Tiền (08/01/2012)
Thêm 23 di tích được xếp hạng (25/12/2011)
Tin tiêu điểm
Whitney Houston đột tử ở tuổi 48Whitney Houston đột tử ở tuổi 48
Cựu chiến binh đi đầu hiến đất làm đườngCựu chiến binh đi đầu hiến đất làm đường
Tìm thấy thi thể mất tích người Hải DươngTìm thấy thi thể mất tích người Hải Dương
Công bố đình chỉ công tác lãnh đạo huyện Tiên LãngCông bố đình chỉ công tác lãnh đạo huyện Tiên Lãng
Hải Phòng triển khai kết luận của Thủ tướngHải Phòng triển khai kết luận của Thủ tướng
Trao giải cho 13 khách hàng may mắnTrao giải cho 13 khách hàng may mắn
Đổi giờ học ở Hà Nội gần như "phá sản”Đổi giờ học ở Hà Nội gần như "phá sản”
Tin đọc nhiều nhất
Nghi án giám đốc bị sát hạiNghi án giám đốc bị sát hại
Tìm thấy thi thể mất tích người Hải DươngTìm thấy thi thể mất tích người Hải Dương
Chiến công đầu xuânChiến công đầu xuân
Anh chết, em gái bị thươngAnh chết, em gái bị thương
Hải Phòng triển khai kết luận của Thủ tướngHải Phòng triển khai kết luận của Thủ tướng
Sát hại cán bộ ngân hàng rồi phi tangSát hại cán bộ ngân hàng rồi phi tang
Bảo vệ Big C hành hung khách hàngBảo vệ Big C hành hung khách hàng
Thăm dò ý kiến
Ý kiến của bạn về đề xuất thu phí lưu hành ô-tô (20-50 triệu đồng/năm), xe máy (500.000-1 triệu đồng/năm):
Đồng ý
Không đồng ý
Ý kiến khác
Thông tin hỗ trợ
Thời tiết
Giá vàng
Tỷ giá ngoại tệ
Chứng khoán
Thông tin toà soạnĐặt báoLiên hệ quảng cáoGóp ý / Phản hồiSơ đồ siteWeblinks