Thứ hai, 13/02/2012 04:47AM
Trang nhấtChuyên trang văn nghệ
Tiếng ViệtEnglish
Từ ngày 08-01-2011, Báo Hải Dương phát hành hằng ngày với các ấn phẩm: Hải Dương hằng ngày và Hải Dương cuối tuần. Báo Hải Dương hằng tháng phát hành từ 20-22 hằng tháng. Báo Hải Dương Online cập nhật tin tức liên tục trong ngày !
Hải Dương thời vương triều Lê, Mạc, Lê Trung Hưng
  25/02/2010 16:47:04 PM
Dưới vương triều Lê, Mạc, Lê Trung Hưng,  Hải Dương xuất hiện nhiều làng nghề nổi tiếng như khắc ván gỗ in sách ở  Gia Lộc, vàng bạc Châu Khê (Bình Giang), gốm Chu Đậu,...cùng với các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Nguyễn Hữu Cầu...
Sau 20 năm bị nhà Minh đô hộ với chế độ vô cùng hà khắc, Lê Thái Tổ đã đứng lên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của ngoại bang. Đất nước trở lại thanh bình, nhà hậu Lê đã thực hiện hàng loạt các chính sách khuyến khích sản xuất, yên dân, phát triển đất nước.

Về địa lý hành chính: Nhà Lê chia cả nước thành 5 đạo, Hải Dương ngày nay thuộc Đông Đạo.

Năm Quang Thuận thứ 7 (1466) vùng đất Hải Dương ngày nay thuộc thừa tuyên Nam Sách (cả nước có 13 thừa tuyên). Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) gọi là thừa tuyên Hải Dương (cả nước có 12 thừa tuyên).

Năm 1491, dưới thời Lê Trung Hưng gọi là xứ Hải Dương (cả nước có 12 xứ).

Hải Dương là đất phát nguồn nhà Mạc. Để tăng cường cho vùng đất Dương kinh, triều Mạc lấy các phủ Thuận An của Kinh Bắc, phủ Thái Bình, Kiến Xương, Long Hưng và Khoái Châu của trấn Sơn Nam nhập vào trấn Hải Dương . Nhờ  vậy dưới triều Mạc, đất Hải Dương rộng ra cả phía nam và bắc, là trấn giàu của cải, nhiều người, cũng lắm nhân tài.

Vân Mã. Bộ ván in Thập vật chùa Bút Tháp (Ninh Phúc tự, Thuận Thành, Bắc Ninh) TK18. Bản in do cố họa sĩ Nguyễn Trọng Hợp in lại năm 1974.
Về kinh tế: Nghề trồng lúa nước và các nghề thủ công đều được khuyến khích phát triển. Ở Hải Dương phải kể đến nghề khắc ván gỗ in sách ở Liễu Tràng, xã Tân Hưng, huyện Gia Lộc. Đây là nghề khắc ván in duy nhất được triều đình trọng dụng và cho phát triển thành làng nghề khắc tranh dân gian hoạt động sôi nồi, đạt lợi ích cao về kinh tế - xã hội đương thời. Nghề khắc ván in đã góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển văn hóa, giáo dục nước nhà.

Kỹ nghệ luyện kim cũng phát triển. Nghề làm vàng bạc ở Châu Khê đã có nhiều nghệ nhân làm được đồ trang sức tinh xảo, đẹp mắt, truyền dạy nhau thành nghề truyền thống. Sau này, người Châu Khê lên kinh đô, tới các trung tâm, các thị tứ, thị trấn, làm nghề khắp cả nước. Ở Kính Chủ, Kinh Môn người dân truyền dạy nhau phát triển nghề khắc đá.


Nghề vàng bạc Châu Khê (xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang) xuất phát từ nghề đúc bạc nén dưới triều vua Lê Thánh Tông (thế kỷ XV)


Đặc biệt, nhắc đến Hải Dương là nhắc đến sản xuất gốm mà nổi tiếng nhất là gốm Chu Đậu, ra đời vào đầu thế kỷ XV, phát triển rực rỡ trong các thế kỷ XV, XVI.

Chu Đậu thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, là một trong nhiều di tích gốm sứ của tỉnh Hải Duơng. Thời hậu Lê là một xã  nhỏ thuộc huyện Thanh Lâm, châu Nam Sách, nằm ở tả ngạn sông Thái Bình giáp làng Đặng Xá (nay là Mỹ Xá) ở phía tây sông Kè Đá, một sông nhỏ chảy qua phía bắc Chu Đậu, qua Mỹ Xá ra sông Thái Bình tạo đường giao thông thủy thuận lợi (sông Kè Đá nay đã bị bồi lấp do đắp đê sông Thái Bình chặn lại).

Từ Chu Đậu đến Trúc Sơn - Chí Linh, Hổ Lao - Đông Triều, Hoàng Thạch - Kinh Môn khoảng 20-30 km, nhưng nhờ có đường thủy là sông Kinh Thầy, sông Thái Bình, kể cả sông Kè Đá trước đây nên việc chuyên chở vật liệu đến Chu Đậu đều thuận tiện. Thuyền đến Chu Đậu mua hàng gốm sứ rồi có the chở tới Thăng Long, phố Hiến bằng đường sông rất dễ dàng.

Chu Đậu là một trung tâm sản xuất gốm sứ phát triển rực rỡ vào thế kỷ XV và XVI với số lượng lớn, chất lượng cao, loại hình phong phú. Chu Đậu thừa kế và phát triển nghề gốm sứ thời Lý - Trần, là trung tâm sản xuất gốm sứ cao cấp phục vụ cho cung đình và xuất khấu. Gốm Chu Đậu, Mỹ Xá có chất lượng cao, phong phú về loại hình, đa dạng về chủng loại với ba dòng gốm chính là gốm men ngọc, gốm men nâu và gốm men trắng vẽ lam. Gốm men trắng vẽ lam có số lượng nhiều nhất. Gốm Chu Đậu có men và hoa văn khắc chìm sáng tạo về kiểu dáng, màu và kỹ thuật sản xuất. Nhiều loại gốm thời Lê sơ, thời Mạc điển hình đã tìm thấy ở Chu Đậu. Điếm mạnh của gốm Chu Đậu là trên hoa văn đã thể hiện đậm đà tâm hồn, phong cách dân tộc Đại Việt, phản ánh cuộc sống và thiên nhiên một cách sinh động, nhất là những nét văn hóa vùng châu thổ sông Hồng như: hình người đội nón, tà áo người phụ nữ, mục đồng chăn trâu hoặc một cành đào đầy hoa nụ với những chú chim nhỏ ngơ ngác trước cảnh xuân sang; từng đàn chim ngói, chim cu sải cánh bay trên đồng ruộng; chim bồ nông, vịt trời bơi lội trên mặt nước; những con cò lặng lẽ kiếm ăn; vài chú chích chòe nhảy nhót trong vườn tìm sâu bọ; những đàn cá bơi lượn dưới làn nước trong; những mái nhà tranh giản dị bên sông ... Tất cả đã được phản ánh trên mặt gốm. Những loài côn trùng cùng hoa lá sinh động, thân thuộc đã được các nghệ nhân thể hiện trên gốm bằng nét bút thần kỳ, phóng khoáng, chất liệu men trắng hoa lam, men màu tam thái. Nhiều loại sản phẩm được trang trí như những bức tranh, tuy đã trải qua 4 - 5 thế kỷ mà nay vẫn còn mới và đẹp.


Gốm Chu Đậu trục vớt từ con tàu đắm ở Cù Lao Chàm

Giá trị văn hóa của gốm Chu Đậu nồi bật ở phương pháp chế tạo và kỹ thuật chế tác, đạt trình độ cao cả về xương gốm và thẩm mỹ. Những sản phẩm như chén, bát, địa, hộp sứ, bình, lọ hoa . . . rất đa dạng về kiểu dáng. Xương gốm trắng đục, có loại màu xám nhạt, nhiều loại sản phẩm đạt chất lượng của sứ. Men gốm trang trí bằng nhiều màu khác nhau, phố biến là men màu trắng trong, màu lam, xanh ngọc, xanh lục, xanh rêu, vàng, nâu. Nhiều hiện vật trang trí hai màu men. Đặc biệt có hiện vật trang trí năm màu men, nền trắng trong, xanh lam (dưới men), xanh lục, vàng, đỏ (trên men). Tuy sản phẩm gốm có 5 màu nhưng vẫn gọi là gốm Tam thái (chỉ có ba màu nhẹ lửa vẽ sau cùng là vàng, xanh lục và đỏ), là mặt hàng gốm sứ cao cấp Việt Nam thế kỷ XV, XVI. Hoa văn chủ đạo là sen, cúc dưới nhiều dạng khác nhau và hàng chục loại hoa văn cách điệu khác, hình tượng động vật gồm các loài chim,  côn trùng, cá, gia súc khá phố biến như trên đã trình bày. Tượng và hình người được thể hiện khá sinh động. Đáy các hiện vật thường có các chữ: phúc, chính, sĩ, hoa, trung, kim, ngọc, tâm, quỳ, trù. Một số hiện vật có chữ ghi ở dưới trôn và phần thân của sản phẩm.

Công cụ sản xuất giữ vai trò quan trọng, quyết định chất lượng của sản phẩm, đồng thời biểu hiện trình độ mỹ thuật của từng thời kỳ lịch sử. Khai quật tại Chu Đậu thu được nhiều công cụ như con kê, bao nung, một số ắc và song bàn xoay.

Nghề thuộc da: Thời Mạc, có ông Nguyễn Thời Trung, người làng Trúc lâm, huyện Tứ Kỳ, trấn Hải Dương, 19 tuổi đã đỗ tiến sĩ. Vua Mạc sai ông sang sứ nhà Minh dâng lễ cống. Trong thời gian ở đây, ông học được nghề thuộc da. Khi về nước, ông truyền nghề thuộc da, đóng giầy cho người làng Trúc Lâm, sau đó lan rộng ra các nơi khác như Văn Lâm, Phong Lâm, huyện Tứ Kỳ. Từ đó, người dân ở ba làng này độc quyền nghề thuộc da và nghề làm đồ da nổi tiếng trong cả nước. Người Trúc Lâm, Văn Lâm, Phong Lâm đi làm ăn khắp nơi trong nước, nhất là ở Bắc Ninh, Nam Định, Hà Nội...Ở Hà Nội, Hải Dương, người dân ở ba làng Trúc Lâm, Văn Lâm, Phong Lâm chiếm gần hết các phố Hàng Da và Hàng Giầy. Triều Nguyễn, thợ đóng giầy khéo nhất của 3 làng phải vào kinh đô Huế phục vụ hoàng gia và quan lại trong cung đình.

Về văn hóa - giáo dục:
Triều Lê sơ có bước phát triển rất quan trọng trong việc đào tạo nhân tài. Sách Khâm Định Việt sử chứng giám cương mục ghi: Nhà vua khi mới lập quốc đã để ý ngay đến việc gây dựng nhân tài: Trong kinh thì lập Quốc tử giám, lựa chọn con cháu nhà các quan và những người tuấn tú trong nhân dân sung làm giám sinh. Ngoài các lộ thì lập trường học ở từng lộ, lựa các con em nhà lương thiện trong dân sung làm lộ hiệu sinh; cử những nhà nho đáng làm thầy đứng ra dạy dỗ.

Do việc học hành được triều đình khuyến khích như vậy nên dưới thời Lê - Mạc ở xứ Đông (Hải Dương) số người có học vấn cao, đỗ đạt qua các kỳ thi như các bậc thám hoa, hoàng giáp, tiến sĩ, trạng nguyên có tới trên 87 người (đây là thống kê sơ bộ chưa đầy đủ) được bổ nhiệm làm quan, giúp nước, phục hưng Đại Việt. Đây là thời kỳ Hải Dương có số người đỗ đạt nhiều nhất so với các thời Lý (3), thời Trần (7), thời Nguyễn (33).

Về chính trị - xã hội: Vào cuối triều Lê sơ, các vị vua đều ham mê hưởng lạc chính trị lung lay xuống dốc. Trong nội bộ vương triều các quan lại chia bè, kéo cánh, tranh giành ngôi vị. Trong bối cảnh rối ren, loạn lạc như vậy tháng 6-1527, Mạc Đăng Dung vào cung ép vua phải nhường ngôi. Triều Mạc bắt đầu từ tháng 6-1527. Mạc Đăng Dung lên ngôi vua, tuy có ban hành được một số chính sách tích cực, nhất là về kinh tế văn hóa nhưng nhà Mạc vẫn không đưa được đất nước ra khỏi tình trạng hỗn loạn.

Năm 1533, Nguyễn Kim khởi sự phục hưng nhà Lê, lập Lê Duy Ninh lên làm vua, biến vùng từ Thanh Hóa trở vào thành Nam Triều. Nhà Mạc chiếm giữ và cai trị vùng Thăng Long và Bắc Bộ, gọi là Bắc triều.

Khi cuộc nội chiến giữa Nam - Bắc triều vẫn còn đang tiếp diễn, các thế lực phò tá vua Lê chia thành 2 phe Trịnh và Nguyễn mâu thuẫn, xung đột ngấm ngầm ngày càng gay gắt. Sau khi Nam triều về cơ bản giành được thắng lợi trước họ Mạc thì mâu thuẫn giữa hai tập đoàn Trịnh - Nguyễn lại trở nên gay gắt tới mức làm bùng nổ xung đột vũ trang kéo dài từ năm 1627 đến năm 1672. Từ cuối năm 1559 đến đầu năm 1560, trong vòng 6 tháng, Trịnh Kiểm đã đưa quân đánh vào đất Hồng Châu hai lần, các vùng Nam Sách, Chí Linh, Thanh Miện, Gia Phúc bị tàn phá nặng nề. Chiến tranh tiếp tục kéo dài từ cuối thế kỷ XVI sang đầu thứ kỷ XVII. Trong vòng 85 năm (từ 1592 đến 1677), cuộc chiến tranh Trịnh - Mạc làm cho vùng Hải Dương bị kiệt quệ.  Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: Các huyện Thanh Hà, phủ Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn... nhà cửa bị đốt cháy gần hết. Kết cục của cuộc chiến tranh là sự chia cắt đất nước thành hai miền. Đến năm 1786, Quang Tnmg tiến quân ra Bắc Hà, ranh giới sông Linh Giang (sông Gianh), mới bị xóa bỏ, tạo tiền đề cho sự thống nhất đất nước.

Trong cuộc chiến tranh Trịnh - Mạc ở Hải Dương, Đinh Văn Tả nổi lên như một vị tướng nam chinh, bắc chiến lập nhiều chiến công hiển hách.

Cuộc đời binh nghiệp của ông gắn liền với việc phò Lê diệt Mạc. Năm 1677, tuy đã 78 tuổi ông vẫn cầm quân đánh tan quân Mạc Kính Vũ ở Cao Bằng, chấm dứt hoạt động của nhà Mạc, thu hồi 4 châu Thạch Lam, Quang Uyên, Thượng Lang,  Hạ Lang. Ông được vua Lê cho lập "sinh từ' và phong thượng đẳng đại vương, thượng đẳng thần, là Thành hoàng làng Hàn Giang, tổng Hàn Giang nay thuộc phường Quang Trung, thành phố Hải Dương.

Sau khi dẹp xong dư đảng nhà Mạc, chúa Trịnh dùng thực quyền thao túng triều chính. Theo Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, giữa thế kỷ XVIII, triều đình Lê - Trịnh suy đồi, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Nạn hạn hán, lụt lội, gây đói kém, bệnh dịch diễn ra liên miên. Nạn đói năm 1741 vô cùng khủng khiếp. Dân bỏ cày cấy. Thóc lúa dành dụm được trong xóm làng đều hết sạch. Dân lưu vong, bồng bế nhau đi kiếm ăn đầy đường. Giá gạo tăng vọt. 100 đồng tiền không đổi được 1 bữa ăn. Dân phần nhiều sống nhờ rau cỏ, ăn cả rắn, chuột. Người chết đói ngon ngang.

Nạn đói ở Hải Dương khi đó là nghiêm trọng nhất. Mặc dù dân tình như vậy, nhưng chúa Trịnh vẫn cho làm chùa, đào hồ ở Đông Triều, Chí Linh, lấy dân phu các huyện Hiệp Sơn, Thủy Đường, Kim Thành, Đông Triều, Thanh Hà để phục dịch. Bấy giờ, cung, quán, chùa, đền xây dựng liên miên. Từ đường họ ngoại của chúa ở Tử Dương và Mỹ Thứ càng tráng lệ hơn. Nội sứ tìm mua gỗ, đá với chế độ hà khắc, bắt ức nhân dân, nhà buôn đều gác nghề, dân lâu dần không chịu nổi.

Chúa Trịnh còn đặt ra lệ ai nộp tiền thì được làm quan, chức to, nhỏ tùy theo tiền nhiều hay ít. Quan tham nhũng nhiều, triều chính ngả nghiêng. Do vậy, khởi nghĩa nổi lên ở khắp nơi. Ở  Hải Dương thời đó đáng kể là khởi nghĩa của Nguyễn Cừ. Nguyễn Tuyển.

Năm Kỷ Mùi (1739), Vũ Triệu nổi lên khởi nghĩa ở Phượng Nhãn, vùng đất giáp Chí Linh (Hải Dương), liền với quê Nguyễn Tuyển. Triều đình cử Kế quận công Đặng Đình Luận đi đánh dẹp. Nghe tin, Nguyễn Tuyển đến cửa quân yết kiến, tình nguyện đi làm hiệu lực, xin quản đội Hữu Nhuệ, rồi trở về huyện nhà mộ nghĩa dũng đi theo, ngầm ý thừa cơ khởi loạn nhưng còn do dự. Thấy vậy, Vũ Trác Oanh khuyên không nên bỏ lỡ cơ hội, khi đó Nguyễn Tuyển mới quyết định khởi sự. Ông sai Vũ Trác Oanh về Thanh Miện, Nguyễn Cừ về Thanh Hà, Kim Thành chiêu dụ hào kiệt, dân chúng ở các phủ huyện. Cuối năm đó, Nguyễn Tuyển mở Đại hội tướng sĩ ở làng Đồng Xá (Kim Thành), lập đàn thề, kéo cờ sắc xanh, đề hai chữ Ninh dân (Yên dân). Tin về đến kinh đô, triều đình cho là ngoa truyền, không tin bởi Nguyễn Tuyển là dòng dõi danh thần, vốn có lòng trung nghĩa, mang quân đi đánh dẹp nơi khác, không chú ý đến Tuyển. Quan quân triều đình trên đường đi đánh dẹp Vũ Triệu, Nguyễn Tuyển vờ ra bái yết, xin làm hướng đạo dẫn đến Đông Triều đánh dẹp Vũ Triệu. Do Đông Triều là vùng đất bán sơn địa, rất thuận cho việc dụng binh nên đến Đông Triều nhân lúc sơ hở, Nguyễn Tuyển cho bắt quan Đốc lĩnh và Hiệp đồng, cưỡng ép tướng sĩ đi theo mình, rồi chia quân đi đóng ở các huyện Quế Dương, Gia Bình chống lại quân triều đình.

Trên đường đánh Quế Dương, Gia Bình trở về, ngày 10 tháng Giêng (tháng 2-1740), Nguyễn Tuyển lại mở đại hội ở chợ Hóp (Thượng Đáp, Thanh Lâm, nay thuộc Thanh Hồng, Nam Sách), làm lễ tế cờ, chiêu dụ nhân dân. Người tới dự có hàng vạn, cổ vũ nghĩa quân nhiệt liệt. Tại đại hội này, Nguyễn Tuyển được tôn làm minh chủ. Từ đó nghĩa quân lớn mạnh phi thường, thanh thế lừng lẫy. Ngọn lửa chiến tranh bùng cháy khắp vùng Từ Sơn, Thuận Thành, Thượng Hạ Hồng, Nam Sách.

Sau khi được tin cấp báo Nguyễn Tuyển khởi loạn ở Hải Dương, triều đình cử nội giám Hoàng Công Phụ đem quân đến Thanh Lâm để đàn áp, nhưng bị nghĩa quân đánh bại, một số lính triều đình chạy về theo nghĩa quân. Tháng 2 năm Canh Thân (tháng 3-1740), nghĩa quân có hàng vạn người, vượt địa giới Hải Dương đánh lên Kinh Bắc, tới làng Bình Ngô, huyện Gia Bình. Tổng chỉ huy quân triều đình là tướng Nguyễn Trọng Uông, người nổi tiếng mạnh khoẻ, quả cảm, thiện chiến, thường một mình một ngựa xông vào trận giặc, nhưng đã bị thất bại thảm hại, đại quân tan vỡ, Trọng Uông chết tại trận. Thuộc tướng là Nguyễn Hữu Nhận bỏ chạy, hiệu tướng Đặng Đình Sắt, Nguyễn Hữu Tá cũng rút chạy. Khi trở về Thăng Long, chúa Trịnh tức giận, bắt Nhận đi đày, tử hình Sắt và Tá. Thừa thắng, quân Nguyễn Tuyển đánh vào Thượng Phúc, phía tây kinh đô, rồi lại rút về Chí Linh.

Triều đình Lê - Trịnh rất lo sợ sự phát triến nhanh chóng của nghĩa quân, bởi trong số những người đi theo nghĩa quân, không chỉ là nông dân mà có cả những sĩ phu bất mãn về con đường khoa hoạn,  bèn ra một đạo dụ, nhằm ly tán giữa sĩ phu với nông dân, cô lập nghĩa quân. Đạo dụ ra tháng 5 năm Canh Thân, trong đó có đoạn viết:

Nhà nước dùng lễ độ đối đãi với sĩ phu, dùng nhân nghĩa nuôi dưỡng dân chúng... Thế mà trước đây bọn giặc ở Chí Linh can phạm danh phận, thành ra dân một góc vùng đông bắc riêng bị chúng ức hiếp dỗ dành. Là học trò, được triều đình giáo dục thành tài mà vì chúng phơi gan, dâng sức, là người dân, được triều đình cho vui chơi yên nghỉ mà vì chúng xông vào giáo mác, nước sôi... Khuyên mọi người đều nên tinh toán cho kỹ, nhận rõ cái lẽ hướng chỗ sáng bỏ chỗ tối. (Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, tập XXXVIII).

Đáp lại chỉ dụ, nghĩa quân tiến đánh Đường An, đốt phá từ đường ngoại thích của chúa Trịnh ớ Mỹ Thứ. Được tin, chúa Trịnh cử quân tiến đánh nhưng quân sĩ chỉ tiến đến Yên Nhân rồi rút lui, không dám tiến đánh. Sau những chiến thắng trên, nghĩa quân lập căn cứ, xây dựng đồn luỹ tại 3 địa điểm:

- Ninh Xá, còn có tên là làng Lành, quê hương của Nguyễn Tuyển. Ở đây  ba mặt có sông,  mặt còn lại nghĩa quân đắp lũy, bố trí quân mai phục.
- Thành Phao Sơn (Chí Linh) nguyên là một thành lớn từ thời giặc Minh xâm lược, được gia cố vào thời Mạc. Phía nam thành từng là trị sở của tư Thừa chính và trường thi hương một thời.
- Làng Đỗ Lâm thuộc huyện Gia Phúc do Nguyễn Cừ cai quản.

Tháng 7 nhuận năm Canh Thân, chúa Trịnh cử Bích quận công Hoàng Nghĩa Bá mang quân tấn công đồn Phao Sơn, được Trần Cảnh, người làng Điền Trì cùng huyện với Nguyễn Tuyển, rất thông thạo địa hình, giỏi mưu lược, tư vấn mưu kế nên quân Trịnh thắng to.

Ngày 30 tháng 7 năm Canh Thân, Trần Cảnh mang quân tiến theo sông Nguyệt Đức, sai con thứ là Trần Lưu là hướng đạo, men theo Côn Sơn, đánh tan đội quân chặn đường của Nguyễn Tuyển, cùng lúc được đại quân tiếp ứng, tiến thẳng vào thành Phao Sơn, nghĩa quân chống không nối phải rút khỏi thành. Quân Trịnh chiếm thành, thu được nhiều lương thảo và khí giới. Nguyễn Cừ thấy thành Phao Sơn bị tấn công, mang quân ứng cứu, bao vây thành quân hai bên kịch chiến suốt một ngày đêm. Vào buổi chiều tối, quân triều đình từ đồn Châu Sơn vượt sông Lục Đầu đến giải vây, trong đánh ra, ngoài đánh vào, Nguyễn Cử bị thương, đành phải lui quân.

Sau khi thất thủ ở thành phao Sơn, Nguyễn Tuyển về cố thử ở Ninh Xá. Một lần nữa lại được Trần Cảnh hiến kế, quân triều đình đánh úp phía sau làng. Trước khi tấn công, Trần Cảnh đã cho 10 thám tử đi trinh sát nắm chắc tình hình rồi mới hành động. Ngày 22 tháng 7, Thống lĩnh Hoàng Nghĩa Bá cho hành quân tiếp cận thành luỹ vào ban đêm. Trần Cảnh dẫn quân tiên phong vượt sông tiến thẳng vào thành lũy Ninh Xá. Quân triều đình tràn vào như ong, nghĩa quân bị bất ngờ chống không nổi, buộc phải mở đường máu rút chạy. Quân triều đình phá tan thành lũy rồi rút về. Trong khi quân triều đình đốt phá Ninh Xá, nghĩa quân rút sang sông, bảo vệ cơ sở ở Ninh Giang, Đáp Khê (những làng phía bắc Ninh Xá, thuộc tả ngạn sông Kinh Thầy), quân triều đình chiến đấu trong điều kiện bất lợi, buộc phải rút lui.

Tháng 8, tháng 9 năm Canh Thân, nghĩa quân củng cố lực lượng rồi đánh vào phía đông nam Thăng Long, thuộc các huyện Thiên Thi, Văn Giang, Đông An, Kim Động. Chúa Trịnh tự lượng sức mình không thể chống các cuộc khởi nghĩa cùng một lúc, bèn dùng kế tập trung lực lượng diệt từng cuộc khởi nghĩa, trước hết tự thân mang quân tấn công Vũ Đình Dung tại Ngân Già (Sơn Nam), sau khi diệt được Đình Dung sẽ quay về diệt anh em Nguyễn Tuyển. Nắm chắc mưu kế của chúa Trịnh, Nguyễn Tuyển cùng Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oanh tập trung lực lượng, chiếm đóng dinh Bồ Đề, uy hiếp Thăng Long.

Đại quân đã theo chúa đi dẹp nghĩa quân Vũ Đình Dung, lực lượng bảo vệ kinh thành rất yếu. Được tin nghĩa quân chuẩn bị tấn công kinh thành, dân chúng hoang mang, con em nhà công hầu và nhà giàu phần lớn tản xuống Thanh Trì lánh nạn. Trần Cảnh khi đó đang đóng quân ở Kinh Bắc nhưng không dám tấn công nghĩa quân vì lực lượng có hạn, lại chưa nắm chắc tình hình.

Sau khi đánh tan đội quân của Đề lãnh Đặng Đình Mật ở Tiên Hội, Xuân Canh, nghĩa quân đốt phá để gây thanh thế, khói lửa ngút trời. Nguyễn Tuyển sai tướng Trần Du mang 1.000 quân theo dọc bờ sông, thu hết thuyền buôn, chuẩn bị vượt sông. Đội du binh của nghĩa quân đã vào đến cửa tây Thăng Long.

Ngày 21 tháng 11, quân của Trần Cảnh đánh úp vào ban đêm, nghĩa quân bị bất ngờ, thua chạy. Phả họ Trần ghi: Đêm ấy gió bắc nổi to, mưa nhỏ lăn tăn, rét lạnh thấm người, trời đen như mực, tường lầy lội. Đầu canh năm, nghe một hồi trống của phủ soái, rồi tiếng reo hò dậy đất, mọi người tranh nhau đến luỹ giặc để tràn vào. Giặc hốt hoảng như tinh giấc mơ, ngờ là đại quân đã kéo đến, đều trốn chạy. Quân triều đình đánh đuối tới tận Phù Lưu, Đình Bảng (Bắc Ninh).

Tháng 12 năm Canh Thân, nghĩa quân một lần nữa vượt sông, tấn công Thăng Long nhưng cũng không thành công, bèn rút về vùng Khoái Châu, Thượng Hạ Hồng trấn giữ. Đốc đồng trấn Sơn Tây là Trần Viêm mang quân đi dẹp nghĩa quân, nhưng đã thất bại, bị nghĩa quân giết tại trận cùng với vài chục người thân cận.

Sau trận Phả Lại, Ninh Xá, nghĩa quân chiếm lại căn cứ, hoạt động mạnh ở vùng Hải Dương. Chúa Trịnh rất tức giận, muốn sớm kết thúc cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, bèn sai Đặng Đình Luận làm Đốc lãnh trấn Hải Dương, cùng Đốc đồng Nhữ Trọng Thái, Trần Trọng Liêu mang đại quân đi đông bắc, đóng quân ở Đông Triều để làm kế vây ép từ hai phía.

Nguyễn Tuyển thấy quân triều đình đông không thể đánh vỗ mặt, liền lập kế trá hàng, cho người đến gặp Đặng Đình Luận, xin được đi theo đánh giặc lập công chuộc tội. Đặng Đình Luận cả tin, không phòng bị. Nguyễn Tuyển tập hợp tới hàng vạn nghĩa quân, ban đêm đốt lưa, đánh trống xông vào doanh trại quân triều đình tại Bãi Cam, Đồn Trát. Quân triều đình thua to, Đặng Đình Luận cùng Liêu, Thái và nhiều quân sĩ bị bắt. Sáng hôm sau, Nguyễn Tuyển cùng 10 thủ hạ đến gặp Đặng Đình Luận, nói rằng: Nay nước nhà đang suy, của đều hết, dân chúng khổ vì sưu cao, thuế nặng. Chúng tôi đương xếp đặt lại thiên hạ để đưa dân đến chỗ yên ấm. Nay tướng quân tuổi đã cao, chúng tôi xin tôn làm chủ... Xin tướng quân giao cho các đội cơ Tả Nhuệ cùng với khí giới để chia thành đội ngũ. Không rõ vì lý do gì mà đám tướng bại trận bị nghĩa quân nhốt giam trong một ngôi chùa đều trốn thoát sau đó.

Sau trận này, quân triều đình lại tấn công Phả Lại và Ninh Xá, Nguyễn Tuyển thất thủ, chạy lên Lạng Sơn, nương nhờ Thổ tù Toàn Cơ, sau ốm chết. Nguyễn Cừ và Vũ Trác Oanh tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân, nhưng sau hai trận ở Gia Phúc và Bạch Đằng, nghĩa quân suy yếu dần. Nguyễn Cừ chạy lên Lạng Sơn một thời gian rồi trở lại Hải Dương. Khi hai bố con ở một nhà dân tại Ngoạ Vân (Đông Triều), bị Phạm Đình Trọng là người thông thuộc miền Đông Bắc, dò la bắt được, đóng cũi đưa về kinh sư, rồi tử hình. Vũ Trác Oanh trốn về Sơn Nam Hạ, con cháu phải mai danh ẩn tích, cải thành họ Đặng Vũ, cư trú tại Hành Thiện (Nam Định).

Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ chỉ tồn tại trên một năm nhưng đã được hàng vạn nghĩa sĩ tham gia, chiến đấu dưới lá cờ Ninh dân, làm cho triều đình Lê - Trịnh hoang mang, nhiều trận đại bại, lực lượng bị tiêu hao, uy lực bị giảm sút. Khởi nghĩa thất bại vì không thống nhất được lực lượng của các cuộc khởi nghĩa cả nước đương thời, thiếu tổ chức chính trị phù hợp với hoàn cảnh, đặc biệt là thiếu một căn cứ vững chắc. Triều đình Lê - Trịnh tuy đã mất uy tín với nhân dân, bị nhân dân oán ghét nhưng tầng lớp công thần sống dựa vào bộ máy nhà nước còn nhiều, lực lượng quân đội còn khá mạnh, nhiều tướng lĩnh có kinh nghiệm trận mạc, đó là những nguyên nhân dẫn đến thất bại của khởi nghĩa.

Sau khi mất những chủ tướng tin cậy nghĩa quân vẫn tụ tập thành từng toán lớn từ vài trăm tới vài ngàn người ở nơi đồng nội, thôn chằm, lẫn với nông dân, rất khó phân biệt, khi có cơ hội là chống lại quân triều đình. Trong số những thủ lĩnh sau khởi nghĩa Nguyễn Tuyển có Tướng Diên, Tướng Kình và Nguyễn Hữu Cầu. Diên hoạt động ở vùng Sơn Tây, Kình hoạt động ở Cẩm Giàng, Chí Linh (Hải Dương), từng đánh bại quân triều đình tại La Mát (Hưng Yên), bắt sống Nhữ Đình Toán là tướng của triều đình. Những nhóm nghĩa quân nói trên đã sớm đứng dưới cờ của Nguyễn Hữu Cầu, con rể Nguyễn Cừ. Cuộc khởi nghĩa này làm chao đảo triều đình Lê Trịnh suốt 10 năm (1741-1751).

Nguyễn Hữu Cầu sinh đầu thế kỷ XVIII tại làng Lôi Động, nay thuộc xã Tân An, huyện Thanh Hà, mất năm 1751. Ông mồ côi cha tử nhỏ, nhà nghèo, mẹ bán nước ở gốc đa Đồng Tráng, làng Lôi Động để kiếm sống. Thuở thiếu niên, Nguyễn Hữu Cầu mạnh khoẻ, nhanh nhẹn, có tài bơi lội, được mệnh danh là He, ví tài bơi lội như con cá he. Ông được mẹ chắt chiu cho đi học, cùng thầy, cùng lớp với Phạm Đình Trọng. Thời gian đi học của ông không lâu nhưng do thông minh, học đâu nhớ đó, khiến cho các bạn đồng môn phải nể vì. Nhiều giai thoại về sự nhanh trí của ông với thầy và Phạm Đình Trọng còn lưu truyền đến ngày nay (Xem Chương 27: Nhân vật chí).

Vào những năm 30 của thế kỷ XVIII, lạn, lụt, mất mùa liên miên, bệnh dịch hoành hành, vua Lê bất lực, chúa Trịnh hoành hành, nhân dân vô cùng đói khổ. Cuối năm Kỷ Dậu, khi Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ khởi nghĩa, Nguyễn Hữu Cầu hưởng ứng, nổi lên ở Thanh Hà. Khi Nguyễn Cừ bị bắt, ông về lập căn cứ ở Đồ Sơn và Vân Đồn vào cuối năm 1742.

Năm Cảnh Hưng thứ tư (1743), Nguyễn Hữu Cầu giết được Thuỷ đạo đốc binh Trịnh Bảng, tự xưng Đông đạo thống quốc bảo dân đại tướng quân. Ông chủ trương thu lương thực của triều đình và của bọn quan lại, cường hào có tội với dân chia cho dân nghèo, vì vậy được nông dân nhiệt liệt hưởng ứng, gia nhập nghĩa quân, làm cho thanh thế của ông ngày càng lừng lẫy.

Trịnh Doanh được tin nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu vùng vẫy đất Đông đạo liền cử thống tướng Hoàng Công Kỳ, cùng các tướng quân Trần Cảnh, Nguyễn Đăng Hiển, chỉ huy hai đạo quân thuỷ bộ tiến đánh căn cứ Đồ Sơn. Nguyễn Hữu Cầu được tin quân triều đình sắp tới, liền chia quân mai phục, chặn đánh quyết liệt ở Thanh Hà hơn 10 ngày, quân triều đình khốn đốn, may nhờ quân Hoàng Ngũ phúc đen giải vây Hoàng Công Kỳ và Trần Cảnh mới thoát chết. Ít lâu sau, quân của Hoàng Ngũ phúc lại bị nghĩa quân đánh bại, tuỳ tướng của Hoàng Ngũ phúc là Trịnh Bá Khiêm tử trận. Thừa thắng, Nguyễn Hữu Cầu tiến về đánh Kinh Bắc. Tuần phủ Trần Đình Cẩm, Đốc đồng Vũ Phương Đề bỏ cả ấn tín ở Thị Cầu chạy về kinh sư. Hoàng Ngũ Phúc và Trương Khuông mang quân về lấy lại thành Kinh Bắc nhưng sau lại bị quân của Nguyễn Hữu Cầu phá tan ở làng Ngọc Lâm (Yên Dũng), rồi đánh đuổi thống lĩnh Đinh Văn Giai ở Xương Giang, vây dinh Thị Cầu. Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Đình Trọng mang quân đánh Cầu ở Xương Giang, quân Nguyễn Hữu Cầu đuối sức, thua chạy.


Văn miếu Mao Điền, nơi triều đình  nhà Lê buộc phải bỏ dinh Lệ để chuyển về đây
Nguyễn Hữu Cầu là người kiệt hiệt trong số những người khởi nghĩa chống lại triều đình, ra vào nơi bất trắc, có khi bị vây mấy vòng mà một mình một ngựa phá vây chạy thoát. Khi ra ngoài chỉ vài ngày đã có hàng vạn người theo. Người đương thời ví ông như Hạng Vũ, thời Hán Cao Tổ ở Trung Quốc. Tướng sĩ Lê - Trịnh ai cũng sợ Cầu. Riêng có Phạm Đình Trọng là bạn học cũ, hiểu rất rõ về Nguyễn Hữu Cầu, có thể chống được. Nguyễn Hữu Cầu cho đào mộ mẹ của Trọng đổ xuống sông, vì thế mà tạo nên mối thâm thù giữa hai người.

Năm 1746, Nguyễn Hữu Cầu cho người mang vàng đút lót cho Đỗ Thế Giai và Nguyễn Phương Đình vờ xin hàng. Trịnh Doanh thuận cho, phong cho Cầu làm Hương nghĩa hầu, khuyên Trọng không đánh Cầu nữa. Trọng không nghe, tuyển quân người Thanh Hà, Tứ Kỳ, Vĩnh Lại, Thượng Hồng đặt làm 4 cơ. Đỗ Thế Giai nhân đó dèm với Trịnh Doanh, Doanh không tin, cho là Trọng vẫn trung thành, liền làm bài thơ đưa cho để Trọng yên tâm.

Nguyễn Hữu Cầu chiếm cứ vùng Hải Dương, Sơn Nam. Một hôm, quân Cầu đánh với quân của Trọng tại Cẩm Giàng, Cầu thua, nhưng Cầu lại nảy ra một ý tương kế tựu kế, bàn với quân lính rằng: Ta vừa bị thua, có tin thắng trận về kinh tất nhiên chúng sẽ không phòng bị, nay mang quân về đánh có thể thắng. Vì vậy mang quân ngay đến dinh Bồ Đề, gần sáng thì đến nơi. Được tin, Trịnh Doanh tự mang quân giữ bến Nam Tân. Trọng mang quân đánh tập hậu. Cầu thua, mang quân về hợp với quân Hoàng Công Chất ở Thần Khê, Thanh Quan. Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Đình Trọng mang quân đến đánh, quân Cần, Chất thua chạy. Hoàng Công Chất chạy vào Thanh Hoá, Nguyễn Hữu Cầu chạy về Nguyên Lãm, thuộc Nam Đàn, Nghệ An. Trọng lại mang quân đến đánh, Cầu thua chạy về đến làng Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu. Trọng bắt được đóng cũi mang về kinh sư, năm 1751.

Trong vòng 10 năm (1741-1751), Nguyễn Hữu Cầu thừa kế sự nghiệp của Nguyễn Tuyến, Nguyễn Cừ, huy động được hàng vạn nông dân ở vùng đồng bằng châu thố sông Hồng chống lại triều đình Lê - Trịnh,  làm cho tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh nhiều phen kinh hoàng. Khẩu hiệu "Lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo" do ông đề ra đã cố vũ mạnh mẽ những người nông dân nghèo vùng lên đấu tranh chống triều đình Lê - Trịnh.

Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển làm chấn động xứ Đông. Thành Vạn bị quân khởi nghĩa chiếm giữ. Nhà Lê buộc phải bỏ dinh Lệ chuyển trị sở về xã Mao Điền, huyện Cẩm Giàng, lấy cớ rằng: Ở đây có biến thì kêu cứu kinh đô tăng nhanh, mà đường trạm dịch cũng tiện".

Ly sở đặt tại Mao Điền, bên bờ sông Văn Dậu nên có tên là dinh Dậu. Lỵ sở Mao Điền tồn tại 65 năm từ 1739 đến 1804.

(Theo Địa chí Hải Dương)
        In bài viết này
Các tin khác
Giếng cổ bảo lưu huyền sử (12/02/2012)
Hướng tới di sản văn hóa thế giới (08/02/2012)
Đâu bến Bình Than? (07/02/2012)
Lấy kinh sử “làm búa rìu” cai trị muôn dân (03/02/2012)
Đậm đà ẩm thực Hải Dương (02/02/2012)
Rừng phong chốn đất thiêng (25/01/2012)
Hoài niệm hương vị tám xoan (24/01/2012)
Sự tích ông Sộp, bà Dựa (15/01/2012)
Phát hiện khảo cổ bất ngờ ở Quang Tiền (08/01/2012)
Thêm 23 di tích được xếp hạng (25/12/2011)
Tin tiêu điểm
Whitney Houston đột tử ở tuổi 48Whitney Houston đột tử ở tuổi 48
Cựu chiến binh đi đầu hiến đất làm đườngCựu chiến binh đi đầu hiến đất làm đường
Tìm thấy thi thể mất tích người Hải DươngTìm thấy thi thể mất tích người Hải Dương
Công bố đình chỉ công tác lãnh đạo huyện Tiên LãngCông bố đình chỉ công tác lãnh đạo huyện Tiên Lãng
Hải Phòng triển khai kết luận của Thủ tướngHải Phòng triển khai kết luận của Thủ tướng
Trao giải cho 13 khách hàng may mắnTrao giải cho 13 khách hàng may mắn
Đổi giờ học ở Hà Nội gần như "phá sản”Đổi giờ học ở Hà Nội gần như "phá sản”
Tin đọc nhiều nhất
Tìm thấy thi thể mất tích người Hải DươngTìm thấy thi thể mất tích người Hải Dương
Thuê phòng nghỉ khách sạn để... đấu súngThuê phòng nghỉ khách sạn để... đấu súng
"Cháy" hoa tươi dịp lễ tình nhân"Cháy" hoa tươi dịp lễ tình nhân
Bị bắt vì làm bạn gái nhí có bầuBị bắt vì làm bạn gái nhí có bầu
Chiến công đầu xuânChiến công đầu xuân
Mỹ gửi thư cho Iran về vấn đề eo biển HormuzMỹ gửi thư cho Iran về vấn đề eo biển Hormuz
Tàu chiến Nga thăm PhilippinesTàu chiến Nga thăm Philippines
Thăm dò ý kiến
Ý kiến của bạn về đề xuất thu phí lưu hành ô-tô (20-50 triệu đồng/năm), xe máy (500.000-1 triệu đồng/năm):
Đồng ý
Không đồng ý
Ý kiến khác
Thông tin hỗ trợ
Thời tiết
Giá vàng
Tỷ giá ngoại tệ
Chứng khoán
Thông tin toà soạnĐặt báoLiên hệ quảng cáoGóp ý / Phản hồiSơ đồ siteWeblinks