Khi lên ngôi năm 1226, Trần Cảnh mới 8 tuổi mọi việc triều chính đều ở trong tay Thái sư Trần Thủ Độ và Nhiếp chính Trần Thừa. Trong những năm đầu, triều Trần đã phải chống chọi với bao thử thách khó khăn khi đất nước lâm vào khủng hoảng trầm trọng cuối triều Lý. Xã hội Đại Việt được triều Trần đưa dần vào thế ổn định thì sự bất ồn lại nảy sinh trong chính nội bộ hoàng tộc. Lý Huệ Tông và Trần Thị Dung vốn có 2 người con gái, trưởng nữ là công chúa Thuận Thiên, sinh năm 1216 trong lúc vua và nguyên phi chạy trốn khỏi sự truy bức của Đàm Thái Hậu, sau được gả cho Trần Liễu (anh trai của Trần Cảnh). Thứ nữ là công chúa Chiêu Thánh, trở thành vua cuối cùng của triều Lý, rồi sau đó là hoàng hậu của vua Trần Thái Tông. Quá mong có người nối nghiệp, năm 1237, Trần Thủ Độ và vợ là công chúa Thiên Cực (chính là Trần Thị Dung, nguyên là hoàng hậu của vua Lý Huệ Tông) đã ép công chúa Thuận Thiên, khi ấy đang có mang với Trần Liễu phải thay Chiêu Thánh lên làm Hoàng hậu. Vì việc này mà Trần Liễu đã họp quân nổi dậy chống lại triều đình, khiến vua Trần Thái Tông buồn chán bỏ vương triều lên núi Yên Tử tu hành. Nhờ sự quyết đoán của Trần Thủ Độ và sự khéo léo của Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung mà hiềm khích đã được dàn xếp ổn thỏa. Tháng 3-1236, vua Trần Thái Tông đã lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Bang, Yên Hưng cấp cho Trần Liễu làm ấp thang mộc. Nhân việc ấy Trần Liễu có tên hiệu là An Sinh Vương. An Sinh Vương mất năm 1251, nay còn đền thờ trên núi Yên Phụ. Núi Yên Phụ là dãy núi thấp, dài, hình rồng nằm. Đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu đạt trên núi, đầu rồng có 2 giếng mắt rồng, có nhiều nước, quanh năm không cạn. Đây là một di tích lịch sử được xếp hạng thuộc huyện Kinh Môn. Năm 1993 tỉnh Hải Dương đã xây dựng tượng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, con trai An Sinh Vương Trần Liễu tại quần thể di tích Yên Phụ, đến năm 1998 khánh thành, là công trình có ý nghĩa lịch sử - du lịch của tỉnh Hải Dương.
Một địa danh khác ở Hải Dương cũng gắn chặt với vương triều Trần, đó là Kiếp Bạc. Kiếp Bạc không chỉ là vùng đất phong của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mà còn là căn cứ quân sự quan trọng nhất trong các cuộc chiến chống quân Nguyên. Ngày nay Kiếp Bạc là di tích lịch sử - văn hóa lớn được xếp hạng cấp quốc gia. Kiếp Bạc thuộc hương Vạn Kiếp, lộ Lạng Giang thời Trần, thời Nguyễn thuộc địa phận hai xã Vạn Yên (làng Kiếp) thuộc tổng Trạm Điền và xã Dược Sơn (làng Bạc) tổng Chi Ngại, nay thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Kiếp Bạc có dãy núi rồng hình tay ngai bao quanh thung lũng trù phú, trong đó có đền Kiếp Bạc thờ đức Thánh Trần (Trần Quốc Tuấn) cùng Nguyên Từ Quốc mẫu Thiên Thành công chúa (phu nhân); đệ nhất Khâm từ Hoàng thái hậu Quyên Thanh công chúa (con gái thứ nhất - Hoàng hậu của vua Trần Nhân Tông; Đệ nhị nữ đại hoàng Anh Nguyên Quận chúa (con gái thứ hai, vợ Phạm Ngũ Lão); Phạm Ngũ Lão (con rể); cùng bốn cỗ ngai thờ 4 con trai: Trần Quốc Hiến (Hiện), Trần Quốc Nghiền, Trần Quốc Tảng, Trần Quốc Uy (Uất).

|
| Kiếp Bạc là di tích lịch sử - văn hóa lớn được xếp hạng cấp quốc gia |
Phía đông nam Kiếp Bạc giáp vùng núi Phả Lại, Phượng Hoàng, Côn Sơn, là những nơi có di tích lịch sử và danh thắng nổi tiếng có từ thời Lý, Trần. Xa hơn một chút là đền thờ Phiêu Ky đại tướng quân Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, tục gọi là đền Gốm nằm bên bờ vụng Trần Xá, nơi họp Hội nghị Vương hầu, bách quan (Hội nghị Bình Than) tháng 11-1282, bàn kế sách đánh giặc cứu nước. Phía tây giáp sông Thương, một nhánh của sông Lục Đầu, thời Trần có tên là sông Bình Than. Giữa sông có dải phù sa dài gọi là Cồn Kiếm. Phía bắc có thung lũng Vạn Yên. Giữa thung lũng có sông Vang, tuy nhỏ mà sâu thuyền bè có thể đậu sát chân núi. Hai nhánh núi Rồng tiến sát dòng sông, nhánh phía bắc gọi là núi Bắc Đẩu, nhánh phía nam gọi là núi Nam Tào. Trên mỗi đinh núi từng có một ngôi chùa cổ kính. Từ Kiếp Bạc có 6 đường sông và đường bộ, tiến lui đều thuận, có thể về Thăng Long, ra biển, lên bắc, xuống miền đồng bằng. Các thung lũng nối liền với sông Lục Đầu có thể tập kết hàng chục vạn quân thủy bộ, hàng ngàn thuyền chiến. Từ hai đỉnh núi Nam Tào, Bắc Đẩu có thể quan sát một vùng rộng lớn núi sông, làng mạc bao la, tàu thuyền xuôi ngược. Vì thế Kiếp Bạc không chỉ là một cảnh quan hùng vĩ mà còn là một căn cứ quân sự quan trọng có đủ các yếu tố thiên thời địa lợi.
Nhìn chung, cũng như các triều đại trước hướng phòng thủ chủ yếu của quân Trần là về vùng biển đông bắc, nơi thường xuyên bị kẻ thù phương Bắc đe dọa. Chỗ dựa vòng trong của hệ thống phòng thủ biển đông bắc là cụm căn cứ liên hoàn kéo dài từ cửa Bạch Đằng vào đến Lục Đầu do quân đội của Trần Hưng Đạo và các con của ông trực tiếp đóng giữ. Cả hai cuộc chiến chống quân Nguyên năm 1285 và 1288, vị trí chiến lược của địa bàn trọng yếu này đều là nơi hội quân của cả hai phía ta và địch.
Hệ thống căn cứ thủy quân ở Lục Đầu với nhiều quân cảng như Vạn Kiếp, Trần Xá, với những cửa quan như Đại Than... cũng như căn cứ Vạn Xuân thời Lý, là điểm nút của 2 đường thủy, bộ chính từ Trung Quốc vào nước ta thời bấy giờ. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà Trần Hưng Đạo lại đặt phủ đệ của mình ớ Kiếp Bạc, biến nơi đây thành một hệ thống cứ điểm thủy, bộ lợi hại. Cũng không phải ngẫu nhiên bến Bình Than là địa điểm họp hội nghị quân sự bàn về chiến lược chống quân Nguyên. Càng không phải ngẫu nhiên, cả hai lần xâm lược quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy đều hội quân ở đây. Từ Lục Đầu ra biển còn có những căn cứ quân sự được thiết lập như căn cứ Chí Linh với núi Phượng Hoàng ở bên sông, nơi vua Trần đóng quân kiềm chế tốc độ hành quân của quân thủy Ô Mã Nhi trong trận Bạch Đằng. Như căn cứ Trúc Động nằm ở giữa sông Giá và sông Đá Bạc, nơi đặt sở chỉ huy của chiến dịch Bạch Đằng.
Trần Hưng Đạo sinh ở Nam Định nhưng lại chọn Vạn Kiếp là nơi đóng đại bản doanh và là nơi an nghỉ sau cuộc đời binh nghiệp của mình. Ông và các con trấn giữ mảnh đất và vùng biển đảo phía đông kinh thành Thăng Long. Các trận đánh lớn và quyết định tiêu diệt quân địch cũng được ông định đoạt
tại vùng cửa sông phía đông kinh đô thuộc đất Hồng Lộ (Hải Dương).
Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ haiĐất và người Hồng Lộ đóng góp lớn vào cuộc kháng chiến lần hai đánh tan quân Nguyên. Đầu năm 1285, hai cánh quân bộ của giặc Nguyên vượt biên giới Đại Việt theo hai đường Cao Bằng và Lạng Sơn. Trước sức tấn công ào ạt của địch, nhà Trần một mặt triển khai lực lượng trấn giữ những nơi hiểm yếu; mặt khác chủ động tổ chức cuộc rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng. Trần Hưng Đạo đã trực tiếp chỉ huy các trận đánh địch từ biên giới. Sau đó, trước thế giặc mạnh, để bảo toàn lực lượng, quân ta chủ động rút về Vạn Kiếp, Phả Lại. Đây là vùng trọng điểm phòng thủ phía Bắc của quân Trần. Ngày 11-2-1285, địch tiến công các cứ điểm quân Trần tại Vạn Kiếp. Phả Lại, quân ta chống giữ anh dũng suốt 3 ngày. Ngày 14-2, thấy tình hình các điếm chốt trên bộ khó giữ được, Trần Hưng Đạo cho quân rút xuống thuyền. Thuyền chiến của Ô Mã Nhi tập trung lực lượng phá kế hoạch rút lui của ta. Trước tình hình đó, vua Trần tung lực lượng dự bị ở Thăng Long với 10 vạn quân, trên 1.000 thuyền chiến đến ngã ba Đại Than, nơi sông Đuống đổ ra Lục Đầu để trợ chiến cho quân của Trần Hưng Đạo, đồng thời chặn đường không cho quân Nguyên theo đường sông Đuống đánh thẳng vào Thăng Long. Quân Trần vừa chặn đánh địch vừa rút lui an toàn về Thăng Long theo đường sông Hồng.
Ngày 17 và 18-2-1285, địch đánh Thăng Long, quân Trần rút về Thiên Mạc, Thiên Trường. Chốt Thiên Mạc chặn giặc truy kích do Trần Bình Trọng chỉ huy.
Sau 16 ngày rút lui bảo toàn lực lượng, quân Trần quay lại, chiếm lại vùng Vạn Kiếp - Lục Đầu. Tại đây, Trần Hưng Đạo đã củng cố căn cứ Vạn Kiếp, chuẩn bị trận địa để đánh đòn quyết định tiêu diệt địch trên đường rút chạy, đánh sập âm mưu xâm lược của quân Nguyên.
Trong khi đó vua Trần chuyển quân ra biển tại cửa Hải Thị, ngược lên phía bắc Quảng Yên về Ba Chẽ (Quảng Ninh), hành quân bộ từ đó về Hải Phòng rồi theo đường biển vào Thanh Hóa. Như vậy, sau 16 ngày rút lui chiến thuật để bảo toàn lực lượng, quân Trần lại hình thành hai gọng kìm (tại Kiếp Bạc - Hải Dương và Thanh Hóa) bao vây quân Nguyên đang mất phương hướng, lúng túng tại Thiên Trường, tỉnh Nam Định. Quân Nguyên đã chuyển từ thế chủ động tấn công sang thế phòng thủ bị động.
Cuối tháng 5 đầu tháng 6, vào mùa hạ, trời bắt đầu nóng, quân Nguyên suy giảm tinh thần và bị ốm đau bệnh tật. Quân Trần chuyện sang tiến công, đánh trận Đông Bộ Đầu và toàn quân Nguyên trên trục sông Hồng, tiêu diệt lực lượng lớn quân Nguyên. Thoát Hoan dẫn toàn quân rút chạy đến Vạn Kiếp. Ngày 10-6-1285, Trần Hưng Đạo đã tấn công tiêu diệt đại quân địch tại Kiếp Bạc.
Vạn Kiếp là trận đánh lớn cuối cùng tiêu diệt đạo quân Thoát Hoan trên đường rút chạy. Căn cứ Vạn Kiếp vừa là đại bản doanh của Trần Hưng Đạo, vừa là chiến trường tiêu diệt địch. Ngày nay Vạn Kiếp là một di tích lịch sử cấp quốc gia, một bằng chứng về trận đánh lớn trong cuộc chống quân Nguyên lần thứ hai.
Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ baVề cơ bản, cuộc hành quân xâm lược Đại Việt lần thứ ba của quân Nguyên cũng giống như lần thứ hai. Từ Vân Nam, chúng vào Cao Bằng, Lạng Sơn tiến xuống Vạn Kiếp . Cánh quân thủy chủ yếu vận tải lương thực bằng đường biển vào Bạch Đằng để hợp quân ở Vạn Kiếp.
Tháng 12-1287, chúng bắt đầu xâm nhập biên giới Đại Việt. Quân Trần do Trần Hưng Đạo trực tiếp chỉ huy đã đánh địch với phương châm bảo toàn lực lượng để chờ thế phản công. Sau khi các đạo quân Nguyên tập kết ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan biến nơi đây thành một căn cứ thủy bộ khổng lồ, dự định làm cơ sở cho cuộc chinh phạt đến cuối cuộc chiến. Từ đây quân Nguyên tiến về Thăng Long. Theo kế hoạch đã chuẩn bị trước, quân Trần rút khỏi Thăng Long theo đường sông Hồng, tổ chức phòng ngự ở Thiên Mạc - Hải Thị. Quân Trần không tiến hành những trận quyết chiến cản giặc mà chỉ có tính chất ngăn chặn để quân ta an toàn rút lui theo đúng kế hoạch định sẵn.
Toàn bộ quân Trần rút ra biển, triển khai tại vùng biển Hải Đông, khu vực ven biển Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh ngày nay.
Quân Nguyên sau hơn một tháng truy đuổi quân Trần, nhưng quân Trần đã mất hút ra phía biển, nên kế hoạch bị phá vỡ. Thoát Hoan từ Thăng Long trở lại Vạn Kiếp, biến vùng sông nước miền Đông thành căn cứ quân sự.
Trong khi quân Nguyên co cụm ở Vạn Kiếp trong thế bị động lúng túng, vua Trần dùng kế ngoại giao trá hàng kéo dài sự chờ đợi của giặc, hãm địch vào thế thiếu thốn lương thực nghiêm trọng trong khi thuyền lương của địch đã bị Trần Khánh Dư đánh chìm.
Quân Trần tích cực chuẩn bị trận địa phản công, tâm điểm là trận địa Bạch Đằng. Vua Trần đóng quân tại núi Dương Nham - Kinh Môn, Trần Hưng Đạo bày sẵn trận địa tại vùng Lục Đầu - Đá Bạc.
Khoảng cuối tháng 3-1288, tại Vạn Kiếp, nơi 4 tháng trước các cánh quân Nguyên hồ hởi họp mặt bàn kế sách chinh phục, mặc dù vẫn còn khá nguyên vẹn nhưng chúng phải đối mặt với nguy cơ đói rét, bệnh tật và bị quân Trần tập kích. Chúng chuẩn bị rút quân.
Ngày 30-3-1288, đội thuyền binh của quân Nguyên với 500 thuyền chiến, 5 vạn quân bắt đầu rút khỏi Vạn Kiếp trong sự lo âu, sợ hãi.
Trong phần truyện về Trương Ngọc (một viên tướng chỉ huy đạo quân thủy) chép trong Nguyên sử đã xác nhận: Quân thủy do y chỉ huy trên đường đi từ Lục Đầu ra Bạch Đằng đã phải giao chiến hết ngày này sang ngày khác. Chúng đã bị đặt trong tình thế bị tiêu diệt. Phía trước là quân ta đón phục ở Bạch Đằng, phía sau là vua Trần chốt chặt uy hiếp từ Dương Nham (Kính Chủ). Ngày 8-4, toàn bộ quân Nguyên lọt vào trận địa phục kích của quân Trần, thuyền đi đầu vướng cọc, đội hình rối loạn. Trước mặt, sau lưng, hai bên tả hữu đều có quân Trần đón đánh tiêu diệt. Một phương thức được dùng trong trận Bạch Đằng để làm rối loạn đội hình chiến đấu của thuyền chiến quân Nguyên là hỏa công, do võ tướng Vũ Nạp là người làng Mộ Trạch, nay là Tân Hồng, huyện Bình Giang, chỉ huy. Khi thuyền của quân Nguyên bị mắc kẹt trước bãi cọc, đội hình dồn lại thì các bè lửa từ thượng lưu được giấu kín trong các lạch nước chi chít của sông Đá Bạc bắt đầu trôi xuống. Những bè lửa này đã thiêu cháy nhiều thuyền chiến của giặc, làm tăng thêm mức độ rối loạn và hoảng sợ của quân Nguyên. Nguyên sử truyện về Phàn Tiếp viết: Lực chiến từ giờ Mão đến giờ Dậu (tức từ 5-7 giờ sáng đến 5-7 giờ tối), thuyền giặc (quân Trần) tập trung đông tên bắn như mưa. Đại Việt sử ký toàn thư chép: Ngày hôm ấy (8-4 dương lịch), nhân lúc triều lên, Hưng Đạo cho quân khiêu chiến, rồi giả vờ thua, quân giặc đuổi theo, quân ta cố sức đánh lại. Nước triều xuống, thuyền giặc bị vướng cọc. Nguyễn Khoái đem quân Thánh Dực nghĩa dũng đánh nhau với giặc bắt được Bình chương là Áo Lỗ Xích. Hai vua mang quân tiếp đến, tung quân đánh lớn, quân Nguyên chết không kể xiết đến nỗi nước sông đỏ ngầu.
Tướng Phàn Tiếp bị rơi xuống sông, quân Trần dùng câu liêm móc lên, Trương Ngọc tử trận, Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc đều bị bắt sống tại đây.
Trận đánh được thực hiện bằng những trận mưa tên và giáp lá cà trên thuyền. Một bộ phận quân Nguyên bỏ thuyền chạy lên bờ phía tả ngạn. Quân trên bờ phục kích sẵn cùng quân thủy Trần đuổi theo tập kích, tiêu diệt hết.
Sau một ngày tiến công liên tục, toàn bộ quân thủy Nguyên đã bị tiêu diệt. Trong lịch sử nước nhà, chiến thắng Bạch Đằng ngày 8-4-1288 là một trong những võ công hiểnn hách nhất, là đỉnh cao trong nghệ thuật quân sự.
Để ca ngợi chiến công hien hách đó, Phạm Sư Mệnh (Mạnh) đã việt câu thơ tuyệt tác:
Vũ trụ kỳ quan Dương Cốc nhật
Giang Sơn vượng khí Bạch Đằng thâu
Dịch nghĩa:
Kỳ quan của vũ trụ là mặt trời mọc lên từ hang Dương Cốc
Khí thiêng của sông núi đọng lại ở chốn Bạch Đằng.Gần 800 năm qua, thời gian đã làm thay đổi rất nhiều cả vùng sơn địa phên dậu phía đông kinh thành, chỉ còn lại dấu tích ẩn chứa trong lòng đất, trong tiềm thức dân gian và trong sử sách.
Vương triều Trần kéo dài gần 200 năm, là thời kỳ phát triển rực rỡ cả về kinh tế - văn hóa - xã hội và khoa học kỹ thuật. Hiện còn trên 80 di tích lịch sử văn hóa thời Trần thờ những danh nhân, tướng lĩnh, các nhà khoa bảng trên đất Hải Dương. Họ đều được học hành, đào tạo bài bản trong các nhà trường.
Về quân sự, thời Trần đã chế tạo được nhiều thuyền chiến lớn, di chuyển nhanh, trên thuyền có súng hỏa tiễn.
Về kinh tế, phát triển cả công nghiệp, tiễu thủ công nghiệp và nông nghiệp, đặc biệt là nghề gốm. Gốm thời Trần đã có bước phát triển toàn diện và khá cao, cả lò nung, nghệ thuật trang trí hóa văn, bao nung, con kê và kỹ thuật nung đốt, v.v.. Lò nung được sử dụng trước đây là lò cóc thì lúc này đã có loại lò nung khoét sâu vào đồi núi. Loại lò này có thể nâng nhiệt độ trong lò nung đến 1.1000 độ C Và 1.2000 độ C. Lò ở Kiếp Bạc ở đền Gốm, ở Trạm Điền... cho thấy nghề làm gốm thời Trần đã phát triển đa dạng, hình thành những vùng có nhiều lò gốm sản xuất tập trung có tính chuyên nghiệp cao. Khai quật ở Kiếp Bạc, làng gốm Trạm Điền còn thấy những bãi phế tích gốm dài 300 m, rộng hàng trăm mét với những ang, chậu, chum, vại. non sành, thạp, liễn, ấm chén, bát... rất đặc trưng. Về hoa văn, người thợ gốm đã vẽ những họa tiết hoa, lá, chim, cá, gà, voi, hổ, đôi khi có cả hình bóng người. Nhiều họa tiết mang dấu ấn nghệ thuật Phật giáo, tôn giáo chính thống thời Lý - Trần. Sản xuất gốm, sứ thời Trần có hai loại rõ ràng: Một là, để phục vụ cung đình, phục vụ điền trang thái ấp của các vương gia . Hai là, để phục vụ đời sống dân dã. Các lò gốm đã sản xuất ra nhiều sản phẩm như sành xốp tráng men đa dạng tinh xảo với các sản phẩm nổi tiếng như thạp, liễn, bát, ấm chén bằng gốm hoa nâu, gốm hoa trắng, gốm men ngọc, gốm men nâu, gốm men trắng ngà. Để phục vụ cho các công trình xây dựng, nghề sản xuất gạch, ngói phát triển nhanh, trong đó có loại ngói ống bằng sành xốp tráng men trắng, men xanh ngọc và ngói mũi hài có hình khối và trang trí tinh tế, khỏe khoắn. Sản phẩm gạch lát nền, gạch xây, ống cống có loại ống đường kính 35 cm bằng đất nung.
Ở cửa biển Vân Đồn ngày nay, người ta còn tìm thấy nhiều mảnh gốm, đồ gốm thời Lý - Trần chứng tỏ gốm thời Lý - Trần đã tham gia quá trình xuất khẩu, buôn bán giao lưu với nước ngoài.
(Theo Địa chí Hải Dương)