Sinh thời người quê ông thường gọi nghè Tân, còn thiên hạ lấy tên làng ghép vào danh vị gọi là nghè Cốc. Ông tên tục là Nguyễn Quý Tân, tự Đỉnh trai - Tản đình cư sĩ, hiệu Túy Tiên, sinh năm Giáp Tuất 1814 đời Nguyễn Phúc Ánh, niên hiệu Gia Long thứ 12, xuất thân trong gia đình hàn nho có truyền thống yêu nước. Quê ông xã Thượng Cốc, tổng Hội Xuyên, phủ Ninh Giang, nay là thôn Bình Đê, xã Gia Khánh, huyện Gia Lộc.
Ông cất tiếng chào đời lúc đất nước còn mang trên mình đầy thương tích bởi cuộc chiến giành quyền giữa Nguyễn Ánh - Gia Long với nhà Tây Sơn, dân tình đói khổ, đồng ruộng bỏ hoang, làng quê phiêu bạt. Trước cảnh ấy việc đèn sách và lều chõng của nho sĩ Bắc Hà như không còn nhuệ khí. Ông khí chất thần đồng, học ít hiểu nhiều, chỉ một lần tục hạch trúng ngay Tú tài Thượng hạng, được theo vào trường Giám. Sau hội thí trúng Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Dần 1842 Thiệu Trị nhị niên, được bổ tri phủ Quốc Oai (Sơn Tây). Chẳng vui gì khi triều đình tham quan ô lại, khắp nơi nông dân, sĩ phu đứng lên chống lại triều đình, chưa đầy năm nhậm chức tri phủ, ông đã tạo cớ trả ấn từ quan, về quê dạy học, làm thơ. Ông là chỗ dựa cho bao cảnh ngộ bần hàn nơi thôn dã. Thơ ông là lời cảnh báo trực tiếp đến các loại cường hào tham nhũng. Một hôm trong làng có con trâu chết, bà hàng xóm không biết cậy ai trình quan cho được chôn cất. Biết sự tình ông liền giúp mấy vần thơ và đưa bà cầm lên quan huyện. Thơ như sau:
Tôi thân phận gái nữ nhi
Có con trâu chết tôi đi trình làng
Vội vàng váy tụt đơn rơi
Vậy nên tôi phải tìm người làm cái
đơn ni
Quan tri ơi hỡi quan tri
Xin quan nhận lấy cái đơn ni
làm bằng
Dù quan muốn hỏi mần răng
Thì quan cắn cỏ lạy thằng làm đơn
Xem xong đơn viên quan huyện biết ngay là giọng điệu ông nghè Tân mắng mình, lập tức ký cho lý trưởng giúp bà chôn cất con trâu.Dân tình thế thái thời ấy không ít nhiễu nhương, dân đói khổ nhưng năm hết tết đến người nghèo khó đến mấy cũng cố lo chút lễ mọn hương khói gia tiên, cho trẻ con, người già bớt phần hiu quạnh. Riêng ông năm nào cũng thế, lúc từ quan trở đi đều dửng dưng như không thấy Tết, chỉ đến cận kề năm cuối đêm giao thừa, trước khi vào giấc ngủ ông mới giật mình tức cảnh:
Tối ba mươi giơ cẳng đụng cây nêu à Tết
Sáng mồng một lắng tai nghe tiếng
pháo à Xuân.
Tết đến với ông nghè, một danh vị cao sang, một cuộc đời đạm bạc thuở xưa là vậy. Đau đớn hơn vào năm sau đó khi biết mình không ở được, ông vận luôn câu đối:
- Tứ thập ngũ tuế, nhất chiêu thành cổ nhân, bán thế dĩ tiền phi thị mộng.
- Nhị thập cửu tuế, độc cử trúng tiến sĩ, thiên thu chi hậu thọ cơ danh.
Nghĩa là:
- Bốn mươi nhăm tuổi, một sớm thành ra người thiên cổ, những việc nửa đời về trước không phải là chuyện chiêm bao.
- Hai mươi chín tuổi, thi một khoa đỗ ngay tiến sĩ, nghìn năm sau danh ta được trường thọ.
Sau đó, vào mồng một Tết ông đi khắp ba thôn, đến từ đường họ nào ông cũng lễ rồi khóc to ba tiếng. Ông bảo rằng năm nay ông sẽ về, nên phải đi đáp lễ trước rồi dân làng trả lễ sau. Khi mất dân làng ai cũng bảo ông là vị thần, biết trước được tuổi thọ của mình nên mới thế.
Là người trực tính, thẳng ngay và cận dân, ưa làm việc thiện, sống liêm khiết thanh cao, ông nghè Tân được dân làng Thượng Cốc cùng thiên hạ nhiều đời tôn kính.
NGUYỄN QUỐC VĂN