Trần
Cảnh người làng Điền Trì, xã Hộ Xá, tổng Đột Lĩnh, huyện Chí Linh, phủ
Nam Sách, trấn Hải Dương xưa, nay là làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện
Nam Sách. Ông là một nhân vật lịch sử và văn hóa rất nổi tiếng của Việt
Nam ở thời Lê. Khi sống, ông đã được thờ ở chùa Khương (xã Khương Tự,
Kinh Bắc) nay là chùa Dâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, sau khi
chết, được thờ ở Văn chỉ Linh Khê, nay là làng Linh Khê xã Thanh Quang
trong huyện, cùng với Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi và Hưng
Nhượng đại vương, Thái úy Trần Quốc Tảng. Hiện ở phường Cẩm Thượng, TP
Hải Dương có một phố mang tên ông. Đó là ghi nhận của nhân dân ta ngày
hôm nay đối với những đóng góp tích cực của ông trong quá khứ.
Ông
sinh giờ Thìn, ngày 14 tháng 11, năm Giáp Tý (1684) tại quân doanh trấn
Sơn Tây, nay thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Cha ông là Trần
Thọ, tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) lúc ấy đang giữ chức Đốc đồng ở đó.
Ông đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1718), vinh quy ngày 7 tháng 8 âm lịch.
Ông lần lượt làm Hiệp trấn Hải Dương, Tế tửu Quốc Tử giám, Thượng thư
bộ Công, bộ Hình, bộ Binh, bộ Lễ, tước Diệu Quận công, 2 lần làm Tham
tụng (Tể tướng). Về hưu, ông xin vua cho chiêu mộ dân lưu tán về làm
ruộng, lập làng, ở hai phủ Nam Sách và Kinh Môn, vua phong ông chức Hải
Dương khuyến nông sứ. Trên cơ sở hướng dẫn dân trồng cấy lúa nước mà
ông hoàn thành bộ sách Minh nông chiêm phả. Theo Khâm định Việt sử
thông giám cương mục, thì sách này, ông dâng vua Lê Hiển Tông năm Kỷ Tỵ
(1749), được coi là bộ sách khoa học nông nghiệp đầu tiên của nước ta.
Rất tiếc là đến nay, bộ sách đã bị thất lạc, chỉ còn những đoạn lẻ tẻ
in rải rác trên một số sách báo, nhưng rất may, toàn bộ bài Tựa của bộ
sách do chính ông tự viết, thì vẫn còn nguyên vẹn, chép trong Niên phả.
"Trên từ cái lớn lao của thiên thời, nhật nguyệt và tinh tú, dưới từ
cái nhỏ bé của chim muông, côn trùng thảo mộc... Tất cả đều ghi chép
cực kỳ đầy đủ và gọt giũa những chữ rườm rà", để từ đó, mà ứng dụng vào
sản xuất nông nghiệp. Ông mất giờ Thân, ngày 5, tháng 6, năm Mậu Dần
(1758), tại quê nhà. Triều đình tổ chức quốc tang, nghỉ việc 3 ngày.
Chủ tang là quan Tham tụng Trần Danh Ninh, điếu văn của nhà vua. Vua
ban cho ông tên thụy là Trung Nhã, truy tặng tước Thiếu bảo (có sách
chép là Thái bảo) một trong 3 tước cao nhất của triều đình.
Tất
cả những điều trên, được ghi chi tiết trong Tiên tướng công Niên phả
lục, do con trai ông, là Phó đô ngự sử, tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1748),
Thượng thư Trần Tiến, viết, hoàn thành năm 1764, PGS-TS Nguyễn Đăng Na
dịch, Nhà xuất bản Văn học in năm 2003.

|
| Bìa cuốn "Niên phả lục" |
Đọc
tập ký trên, tôi thấy ông có những tư tưởng và cách hành xử rất đáng để
cho chúng ta ngày hôm nay suy ngẫm. Niên phả viết theo thứ tự thời
gian, tôi trình bày theo vấn đề, xâu chuỗi các ý tưởng và sự việc từ
nhiều năm tháng trước sau khác nhau, xen kẽ nhau, có ghi trang, để khi
cần, bạn đọc có thể đối chiếu.Về nhận thức tư tưởng, ông có những điểm
đặc biệt:
Một là, về nông dân khởi nghĩa: Là một viên tướng của
triều đình, nhận lệnh vua, cầm quân đi đánh dẹp nông dân khởi nghĩa.
Điều ấy cũng là lẽ thường, như đã từng xảy ra với nhiều danh tướng của
các triều đại phong kiến. Ngày nay, bằng quan điểm lịch sử, chúng ta
không còn coi đó là một vấn đề gì nặng nề. Cái chính là trong khi làm
việc đó, ông có những suy ngẫm mà hôm nay, chúng ta còn kinh ngạc. Ông
cho rằng, dân bị ức hiếp và cướp bóc vô cùng nặng nề, chế độ đối xử của
chính quyền thì hà khắc, tàn bạo, cho nên, dân chỉ còn một con đường là
"nổi loạn" mà thôi. Trộm cướp cũng từ đó mà ra cả. Đó là cái hại lớn
nhất của chính sách cai trị. Dù có dẹp xong đợt này thì đợt khác lại
nổi lên: "Cùng quá thì sinh trộm cướp. Cái hại đó còn lớn hơn. Cho nên
chẳng bao lâu, giặc lại nổi lên".
Hai là, về các tướng của triều
đình: Trong nhận thức của Binh bộ Thượng thư Trần Cảnh, bọn họ đều là
lũ cướp ngang ngược. Chúng "tung hoành bạo ngược, không chịu tiến quân,
dung túng bọn tướng sĩ cướp đoạt tài vật của dân gian, vơ vét từ chủi
cùn, rế rách...". Tình hình nhiễu nhương đến mức: "Quan quân không có
ai không phạm luật. Tướng thì không nghe lời vua. Về danh nghĩa là đi
đánh giặc, nhưng thực chất là đi cướp của dân. Thảy đều như vậy". Bốn
chữ "Thảy đều như vậy" rất đáng chú ý. Đối lập với quân triều đình,
quân "giặc", lại: "Chưa từng cướp bóc của dân". Thật khó lòng tin những
ý nghĩ ấy lại chính là của người ngồi trên lưng ngựa đi đánh dẹp "giặc".
Ba
là, về vua: Đây là điều tối kiêng kị. Những ý nghĩ như sau, nếu bị tố
giác sẽ bị án chu di. Trần Cảnh đã 3 lần đến hành cung nhà vua, một lần
vua trực tiếp đến quân doanh của ông và 2 lần ông hộ giá vua đi dẹp
"giặc". Ông hầu cơm tiếp trà, nghe chỉ dụ của hoàng thượng mà nhận ra
rằng, nhà vua thường tráo trở, lòng dạ "thật khó lường. Chỉ trong một
khoảnh khắc mà còn thay đổi như vậy, huống chi là lâu dài". Ông than
thở: "kỷ cương bại hoại, uy lệnh không nghiêm, trong kinh ngoài trấn,
binh kiêu, tướng nhác, đoái trông mờ mịt...".
Bốn là, về các
quan: Họ đều là bọn biển lận, bất tài, toàn bộ lo toan chỉ là làm sao
vơ vét cho nhiều tiền bạc của dân để cờ bạc rượu chè trai gái. Đi ra
trận thì chỉ đắm chìm vào tửu sắc, ở đâu "cũng làm điều xấu xa, vui say
tửu sắc, không để ý đến việc quân". "Giặc" đến nơi mà không biết, để
"tướng bị thua và bị giết, toàn quân (thủy) bị lật chìm, tướng sĩ không
một ai chạy thoát". Khi chầu vua, thì, không một ai có ý kiến riêng,
chỉ "đưa đón theo ý của chỉ dụ (ý của nhà vua), không chịu tra xét",
"cùng đảng thì vào hùa, khác phe thì hãm hại. Người có tài thì lại phỉ
báng, mạt sát nhao nhao". Họ chạy quyền, chạy chức, "dựa vào kẻ khác để
được đề bạt, con đường làm quan của họ, cũng chỉ là đem thân hiến cho
kẻ khác mà thôi” (làm theo ý của người đề bạt mình, bất kể phải trái).
Chính
vì những nhận thức như thế, nên cuộc đời ông đầy những bi kịch. Ông vừa
háo hức dấn thân vừa chán nản, tận trung với vua mà thấy vua tăm tối
chả ra gì, đi đánh "giặc" mà thấy chính nghĩa hình như lại thuộc về...
phía "giặc". Vì thế, ông luôn bị dèm pha. Những sai sót đều bị phóng
đại lên. Có lần ông bị biếm chức đến 6 bậc, hôm trước còn cầm cờ Đại
tướng quân, giữ ấn Tể tướng, hôm sau đã bị giáng xuống làm thừa sai,
giúp việc cho người ở dưới mình đến 5 bậc, "người thường không thể chịu
nổi, nhưng vẫn bỏ qua, lòng không vướng víu. Dù bị thế cùng, vẫn yên
lòng với sự đãi ngộ". "Từ khi bị khiển trách tới nay, chưa từng có một
lời thanh minh, cũng chưa từng nhờ ai xin xỏ cho". Đấy là lời nhận xét
của vua Lê Hiển Tông khi phục chức Tham tụng cho ông, tháng 5 năm Cảnh
Hưng thứ 10 (1749).Tư tưởng là thế, vậy hành xử như thế nào? Chúng ta
thấy rất rõ những điểm sau:
Một là, khoan dung: Trong lần làm
hiệp đồng, theo xe vua đi đánh "giặc", quân triều đình bắt được 800
người, lệnh vua là hành quyết. "Nghe vậy đang đêm sợ hãi, dậy viết khải
xin mở đường hiếu sinh". Nội dung tờ khải dâng vua sáng sớm hôm sau, có
đoạn: "Ngửa trông: Đức lớn điếu dân phạt tội. Đồn giặc đã tan, bọn giặc
cũng là dân của triều đình. Cúi xin mở đức hiếu sinh lớn lao của trời
đất, thể lòng bất sát của oai thần vũ...". Ông xin vua: chủ tướng
"giặc" thì giết, phó tướng chỉ chặt 1 chân hoặc 1 tay, rồi tha, để họ
không có khả năng "làm loạn" lần thứ 2, còn lại thì tha bổng hết. Phải
đặt kiến nghị ấy trong điều kiện cụ thể của chiến trận, mới thấy hết
được ý nghĩa tích cực của nó. Nên nhớ là toán "giặc" này, từng đào mộ
bà mẹ thứ của ông (còn mộ tổ và mộ cha mẹ, không tìm thấy, đã giết cả
nhà họ Nguyễn Xuân, cùng làng, vì biết mà không chịu khai báo) "triệt
phá nhà cửa, cướp hết tài sản, từ mảnh vụn cũng không còn". Các tướng
nghe khải của ông, "có người vô cùng phẫn nộ", nhưng vua xét thấy, đến
ông mà còn xin tha cho kẻ thù của mình như thế thì vua bèn nghe theo.
Còn trong các trận, do ông làm chủ soái, khi bắt được "giặc", ông chỉ
"riêng hỏi tội những tên cực kỳ gian ác, ngoài ra, đồ đảng của chúng
không giết một ai". Có trận, ông chỉ chặt 1 chân của trưởng tướng, còn
thì tha hết. Ông thường nói với con (Trần Tiến) đó là "công đức lớn
nhất của mình".
Hai là, kiên quyết xử kẻ tham nhũng và cố giữ
mình thanh liêm: Ông từng làm Thượng thư bộ Hình, chấp chính xứ Sơn
Tây, có 4 người làm lại (viên chức) nhà rất gìau, phạm tội, "đã bán hết
tài sản" (nộp cho ông) để xin miễn tội" nhưng ông không nhận. Một số
quan quen biết ông và nhà quyền thế, "ai nấy đều nói xin hộ cho bốn
người kia, nhưng đều không nghe", vẫn "khép tội tử hình và tịch thu gia
sản". Có người chủ hãng muối, xin được độc quyền mua bán, vua đã ưng
cho, ông xin không thực hiện, vì cho rằng, nếu vậy, chỉ 3 tháng sau,
dân sẽ phải mua giá cực đắt vì thiếu muối. Khi có một viên dưới quyền,
coi kho, xin biếu ông 3 ngàn tiền, để được lĩnh 10 vạn tiền, ông bảo:
"Tôi lấy bấy nhiêu tiền không biết để vào đâu"... Những chuyện như thế,
trong Niên phả khá nhiều.... Khi kinh lý đến các trấn, phủ, huyện, ông
sức trước cho các quan nơi đó, không được đón tiếp rườm rà, "không câu
nệ hình thức, không giết gà mổ lợn", bữa ăn mời ông chỉ cần có cá và
rau là đủ. Bản thân ông chưa từng biếu xén hối lộ, nên ít bạn bè, khi
gặp sự cố bị cấp trên quở phạt, không có ai xin cho. Khi tiếp quan
trên, cũng chỉ giết gà, "chưa từng mổ lợn". Ông thường dặn con cháu là
phải tiết kiệm "ăn mặc đều như những kẻ tá điền và chớ bao giờ cho vay
lấy lãi". "Ông ngoại ở Kiệt Đặc cho vay lấy lãi. Cái gì ông ngoại cho,
không được đem về nhà". Đặc biệt, ông có một hành xử rất mới: Từ năm
1741, không mua ruộng thêm. Tất cả ruộng đất đã mua trước đó, đều "trả
lại cho dân làng, không lấy tiền chuộc", vì ông cho rằng, tiền lương
làm quan đã là tiền của dân rồi, lấy tiền ấy mua ruộng thì trả ruộng
sao còn lấy lại tiền. Khi ông đau mắt, các quan đến thăm, ngạc nhiên
thấy nhà ông tồi tàn. "Quan đại thần, không thể ở tồi tàn như vậy". Sau
này, Phạm Đình Hổ, trong Minh đô sử, có viết rằng: "Ông vốn người cương
trực, thanh liêm, làm quan suốt 40 năm, khi mất vẫn ở trong nhà tranh
vách đất". Ngày ra nhậm chức Tể tướng lần thứ hai, đếm lại cả nhà "chỉ
có 30 quan tiền lẻ". Có lần, ông ra trận, cầm cờ đại tướng quân, "vợ
con đang ở kinh sư, đói rét khốn khổ" con ông (Trần Tiến) phải "đến gặp
quan Tham chính là Hải Bối công, trình bày thẳng về việc nhà và nói
rằng, nhà chẳng còn gì, khó mà tồn tại được". Quan Tham chính mới làm
các thủ tục để trợ cấp cho.
Ba là, cố làm lợi cho dân: Trước hết
là vấn đề ruộng đất, ông có những việc làm vô cùng táo bạo. Đó là thời
kỳ ông cầm ấn Tể tướng, trực tiếp làm Điền chánh sứ, ông "thấy bọn
cường hào chiếm ruộng đất, dân còn sống sót thì thất nghiệp", nên "muốn
chia ruộng đất chính thức cho họ", ông "ức chế kẻ cường quyền, tước
ruộng của kẻ mạnh chia cho người yếu", "cho nên những kẻ cùng đinh được
thân oan đội ơn, còn bọn cường hào quyền quý thì phần nhiều không bằng
lòng". Có kẻ vu cáo ông, cho là ông gây rối loạn lòng dân, triều đình
phải "cử quan ở Kinh đô (Thăng Long) là Phan Cẩn về thanh tra, thấy
không đúng sự thực, nên thôi". Ông viết khải dâng vua, trình bày phép
“binh tàng ư nông”, khi nước yên thì biến lính triều đình thành nông
dân, sản xuất lấy lúa gạo mà ăn, khi có biến thì toàn dân là lính.
"Trước mặt nhà vua, xin ơn cho giảm suất đinh ở Kinh Nam (hai phủ Kinh
Môn và Nam Sách) để cứu dân lành", "tha việc tăng thuế để khoan sức
dân".
Bốn là, luôn xin nghỉ quan, kể cả lúc đương chức Tể tướng,
để nhường đường cho kẻ hiền tài: Khi được phong chức hiệp đồng "đi đánh
giặc Ninh Xá", ông "lấy cớ vợ con đang ở trong quân nên từ chối" nhưng
không được. Ông nhiều lần viết khải, "ngửa trông thánh đức cho được về
hưu, thôi chức Tham tụng cơ mật, cùng các công việc khác", hết lòng đề
bạt người khác thay mình. Ông tâu vua rằng: "Bậc hiền tài đều đang tại
vị, đâu có thiếu người" và mình ở lại, chỉ làm "vướng chân kẻ hiền
tài". Ông còn viết thư cho quan Đốc xuất là Hải Quận công Phạm Đình
Trọng, người do chính ông đề bạt, lời lẽ rất khẩn thiết, mà tôi chưa
thấy bao giờ: "Trưởng quan được hoàng thượng tin yêu, nói gì đều được
nghe, xin gì được nấy. Mong giúp đỡ vài lời khải tấu, nói đủ đầy những
điều kém cỏi của tôi, không thể đảm đương được công việc...". Nếu được
thôi chức, "Ơn ấy, nguyện khắc cốt ghi xương, coi bằng non Thái". Ngày
nay, đọc những dòng này, còn thấy ông mới mẻ như thế nào. Về nghỉ, để
được làm việc theo ý mình. Ông xin vua cho chiêu tập dân lưu tán sau
những năm loạn lạc, khai hoang lập làng xã, thuộc 2 phủ Nam Sách và
Kinh Môn, dọc theo sông Kinh Thầy, thuộc các huyện Nam Sách, Kim Thành,
Kinh Môn, Chí Linh của Hải Dương; Đông Triều, Yên Hưng của Quảng Ninh
và Thủy Nguyên của Hải Phòng ngày nay. Ý thức và hành xử của ông là cố
gắng lo toan cho dân, làm lợi cho dân.
Trên đây là những ghi
chép của Phó đô ngự sử Trần Tiến (1709-1770), cho ta hình dung một
triều đại phong kiến với những nhiễu nhương của buổi suy tàn. Trong sự
tiếp nhận của ngày hôm nay, chúng ta nhận ra khát vọng hòa bình, ổn
định và phát triển của người xưa, mà hiện nay chúng ta đang thực hiện
có hiệu quả. Thông qua hành tích của một con người với những hạn chế
lịch sử nhất định cách ta non 300 năm, gạn đục khơi trong, chúng ta vẫn
tiếp nhận được những giá trị tích cực, để xây dựng chuẩn mực đạo đức
mới, vì một xã hội nhân ái, công bằng và tốt đẹp hơn.
PHẠM VĨNH