Thứ hai, 13/02/2012 13:17PM
Trang nhấtChuyên trang văn nghệ
Tiếng ViệtEnglish
Từ ngày 08-01-2011, Báo Hải Dương phát hành hằng ngày với các ấn phẩm: Hải Dương hằng ngày và Hải Dương cuối tuần. Báo Hải Dương hằng tháng phát hành từ 20-22 hằng tháng. Báo Hải Dương Online cập nhật tin tức liên tục trong ngày !
Tham tụng thượng thư Trần Cảnh: Tư tưởng và hành xử trong tiếp nhận của ngày hôm nay
  02/02/2010 08:52:27 AM
Trần Cảnh người làng Điền Trì, xã Hộ Xá, tổng Đột Lĩnh, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương xưa. Ông là một nhân vật lịch sử và văn hóa rất nổi tiếng của Việt Nam ở thời Lê.

 Tham tụng Thượng thư Trần Cảnh
Trần Cảnh người làng Điền Trì, xã Hộ Xá, tổng Đột Lĩnh, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương xưa, nay là làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách. Ông là một nhân vật lịch sử và văn hóa rất nổi tiếng của Việt Nam ở thời Lê. Khi sống, ông đã được thờ ở chùa Khương (xã Khương Tự, Kinh Bắc) nay là chùa Dâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, sau khi chết, được thờ ở Văn chỉ Linh Khê, nay là làng Linh Khê xã Thanh Quang trong huyện, cùng với Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi và Hưng Nhượng đại vương, Thái úy Trần Quốc Tảng.  Hiện ở phường Cẩm Thượng, TP Hải Dương có một phố mang tên ông. Đó là ghi nhận của nhân dân ta ngày hôm nay đối với những đóng góp tích cực của ông trong quá khứ.

Ông sinh giờ Thìn, ngày 14 tháng 11, năm Giáp Tý (1684) tại quân doanh trấn Sơn Tây, nay thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Cha ông là Trần Thọ, tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) lúc ấy đang giữ chức Đốc đồng ở đó. Ông đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1718), vinh quy ngày 7 tháng 8 âm lịch. Ông lần lượt làm Hiệp trấn Hải Dương, Tế tửu Quốc Tử giám, Thượng thư bộ Công, bộ Hình, bộ Binh, bộ Lễ, tước Diệu Quận công, 2 lần làm Tham tụng (Tể tướng). Về hưu, ông xin vua cho chiêu mộ dân lưu tán về làm ruộng, lập làng, ở hai phủ Nam Sách và Kinh Môn, vua phong ông chức Hải Dương khuyến nông sứ. Trên cơ sở hướng dẫn dân trồng cấy lúa nước mà ông hoàn thành bộ sách Minh nông chiêm phả. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, thì sách này, ông dâng vua Lê Hiển Tông năm Kỷ Tỵ (1749), được coi là bộ sách khoa học nông nghiệp đầu tiên của nước ta. Rất tiếc là đến nay, bộ sách đã bị thất lạc, chỉ còn những đoạn lẻ tẻ in rải rác trên một số sách báo, nhưng rất may, toàn bộ bài Tựa của bộ sách do chính ông tự viết, thì vẫn còn nguyên vẹn, chép trong Niên phả. "Trên từ cái lớn lao của thiên thời, nhật nguyệt và tinh tú, dưới từ cái nhỏ bé của chim muông, côn trùng thảo mộc... Tất cả đều ghi chép cực kỳ đầy đủ và gọt giũa những chữ rườm rà", để từ đó, mà ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp. Ông mất giờ Thân, ngày 5, tháng 6, năm  Mậu Dần (1758), tại quê nhà. Triều đình tổ chức quốc tang, nghỉ việc 3 ngày. Chủ tang là quan Tham tụng Trần Danh Ninh, điếu văn của nhà vua. Vua ban cho ông tên thụy là Trung Nhã, truy tặng tước Thiếu bảo (có sách chép là Thái bảo) một trong 3 tước cao nhất của triều đình.

Tất cả những điều trên, được ghi chi tiết trong Tiên tướng công Niên phả lục, do con trai ông, là Phó đô ngự sử, tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1748), Thượng thư Trần Tiến, viết, hoàn thành năm 1764, PGS-TS Nguyễn Đăng Na dịch, Nhà xuất bản Văn học in năm 2003.


 Bìa cuốn "Niên phả lục"
Đọc tập ký trên, tôi thấy ông có những tư tưởng và cách hành xử rất đáng để cho chúng ta ngày hôm nay suy ngẫm. Niên phả viết theo thứ tự thời gian, tôi trình bày theo vấn đề, xâu chuỗi các ý tưởng và sự việc từ nhiều năm tháng trước sau khác nhau, xen kẽ nhau, có ghi trang, để khi cần, bạn đọc có thể đối chiếu.Về nhận thức tư tưởng, ông có những điểm đặc biệt:

Một là, về nông dân khởi nghĩa: Là một viên tướng của triều đình, nhận lệnh vua, cầm quân đi đánh dẹp nông dân khởi nghĩa. Điều ấy cũng là lẽ thường, như đã từng xảy ra với nhiều danh tướng của các triều đại phong kiến. Ngày nay, bằng quan điểm lịch sử, chúng ta không còn coi đó là một vấn đề gì nặng nề. Cái chính là trong khi làm việc đó, ông có những suy ngẫm mà hôm nay, chúng ta còn kinh ngạc. Ông cho rằng, dân bị ức hiếp và cướp bóc vô cùng nặng nề, chế độ đối xử của chính quyền thì hà khắc, tàn bạo, cho nên, dân chỉ còn một con đường là "nổi loạn" mà thôi. Trộm cướp cũng từ đó mà ra cả. Đó là cái hại lớn nhất của chính sách cai trị. Dù có dẹp xong đợt này thì đợt khác lại nổi lên: "Cùng quá thì sinh trộm cướp. Cái hại đó còn lớn hơn. Cho nên chẳng bao lâu, giặc lại nổi lên".

Hai là, về các tướng của triều đình: Trong nhận thức của Binh bộ Thượng thư Trần Cảnh, bọn họ đều là lũ cướp ngang ngược. Chúng "tung hoành bạo ngược, không chịu tiến quân, dung túng bọn tướng sĩ cướp đoạt tài vật của dân gian, vơ vét từ chủi cùn, rế rách...". Tình hình nhiễu nhương đến mức: "Quan quân không có ai không phạm luật. Tướng thì không nghe lời vua. Về danh nghĩa là đi đánh giặc, nhưng thực chất là đi cướp của dân. Thảy đều như vậy". Bốn chữ "Thảy đều như vậy" rất đáng chú ý. Đối lập với quân triều đình, quân "giặc", lại: "Chưa từng cướp bóc của dân". Thật khó lòng tin những ý nghĩ ấy lại chính là của người ngồi trên lưng ngựa đi đánh dẹp "giặc".

Ba là, về vua: Đây là điều tối kiêng kị. Những ý nghĩ như sau, nếu bị tố giác sẽ bị án chu di. Trần Cảnh đã 3 lần đến hành cung nhà vua, một lần vua trực tiếp đến quân doanh của ông và 2 lần ông hộ giá vua đi dẹp "giặc". Ông hầu cơm tiếp trà, nghe chỉ dụ của hoàng thượng mà nhận ra rằng, nhà vua thường tráo trở, lòng dạ "thật khó lường. Chỉ trong một khoảnh khắc mà còn thay đổi như vậy, huống chi là lâu dài". Ông than thở: "kỷ cương bại hoại, uy lệnh không nghiêm, trong kinh ngoài trấn, binh kiêu, tướng nhác, đoái trông mờ mịt...".

Bốn là, về các quan: Họ đều là bọn biển lận, bất tài, toàn bộ lo toan chỉ là làm sao vơ vét cho nhiều tiền bạc của dân để cờ bạc rượu chè trai gái. Đi ra trận thì chỉ đắm chìm vào tửu sắc, ở đâu "cũng làm điều xấu xa, vui say tửu sắc, không để ý đến việc quân". "Giặc" đến nơi mà không biết, để "tướng bị thua và bị giết, toàn quân (thủy) bị lật chìm, tướng sĩ không một ai chạy thoát". Khi chầu vua, thì, không một ai có ý kiến riêng, chỉ "đưa đón theo ý của chỉ dụ (ý của nhà vua), không chịu tra xét", "cùng đảng thì vào hùa, khác phe thì hãm hại. Người có tài thì lại phỉ báng, mạt sát nhao nhao". Họ chạy quyền, chạy chức, "dựa vào kẻ khác để được đề bạt, con đường làm quan của họ, cũng chỉ là đem thân hiến cho kẻ khác mà thôi” (làm theo ý của người đề bạt mình, bất kể phải trái).

Chính vì những nhận thức như thế, nên cuộc đời ông đầy những bi kịch. Ông vừa háo hức dấn thân vừa chán nản, tận trung với vua mà thấy vua tăm tối chả ra gì, đi đánh "giặc" mà thấy chính nghĩa hình như lại thuộc về... phía "giặc". Vì thế, ông luôn bị dèm pha. Những sai sót đều bị phóng đại lên. Có lần ông bị biếm chức đến 6 bậc, hôm trước còn cầm cờ Đại tướng quân, giữ ấn Tể tướng, hôm sau đã bị giáng xuống làm thừa sai, giúp việc cho người ở dưới mình đến 5 bậc, "người thường không thể chịu nổi, nhưng vẫn bỏ qua, lòng không vướng víu. Dù bị thế cùng, vẫn yên lòng với sự đãi ngộ". "Từ khi bị khiển trách tới nay, chưa từng có một lời thanh minh, cũng chưa từng nhờ ai xin xỏ cho". Đấy là lời nhận xét của vua Lê Hiển Tông khi phục chức Tham tụng cho ông, tháng 5 năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749).Tư tưởng là thế, vậy hành xử như thế nào? Chúng ta thấy rất rõ những điểm sau:

Một là, khoan dung: Trong lần làm hiệp đồng, theo xe vua đi đánh "giặc", quân triều đình bắt được 800 người, lệnh vua là hành quyết. "Nghe vậy đang đêm sợ hãi, dậy viết khải xin mở đường hiếu sinh". Nội dung tờ khải dâng vua sáng sớm hôm sau, có đoạn: "Ngửa trông: Đức lớn điếu dân phạt tội. Đồn giặc đã tan, bọn giặc cũng là dân của triều đình. Cúi xin mở đức hiếu sinh lớn lao của trời đất, thể lòng bất sát của oai thần vũ...". Ông xin vua: chủ tướng "giặc" thì giết, phó tướng chỉ chặt 1 chân hoặc 1 tay, rồi tha, để họ không có khả năng "làm loạn" lần thứ 2, còn lại thì tha bổng hết. Phải đặt kiến nghị ấy trong điều kiện cụ thể của chiến trận, mới thấy hết được ý nghĩa tích cực của nó. Nên nhớ là toán "giặc" này, từng đào mộ bà mẹ thứ của ông (còn mộ tổ và mộ cha mẹ, không tìm thấy, đã giết cả nhà họ Nguyễn Xuân, cùng làng, vì biết mà không chịu khai báo) "triệt phá nhà cửa, cướp hết tài sản, từ mảnh vụn cũng không còn". Các tướng nghe khải của ông, "có người vô cùng phẫn nộ", nhưng vua xét thấy, đến ông mà còn xin tha cho kẻ thù của mình như thế thì vua bèn nghe theo. Còn trong các trận, do ông làm chủ soái, khi bắt được "giặc", ông chỉ "riêng hỏi tội những tên cực kỳ gian ác, ngoài ra, đồ đảng của chúng không giết một ai". Có trận, ông chỉ chặt 1 chân của trưởng tướng, còn thì tha hết. Ông thường nói với con (Trần Tiến) đó là "công đức lớn nhất của mình".

Hai là, kiên quyết xử kẻ tham nhũng và cố giữ mình thanh liêm: Ông từng làm Thượng thư bộ Hình, chấp chính xứ Sơn Tây, có 4 người làm lại (viên chức) nhà rất gìau, phạm tội, "đã bán hết tài sản" (nộp cho ông) để xin miễn tội" nhưng ông không nhận. Một số quan quen biết ông và nhà quyền thế, "ai nấy đều nói xin hộ cho bốn người kia, nhưng đều không nghe", vẫn "khép tội tử hình và tịch thu gia sản". Có người chủ hãng muối, xin được độc quyền mua bán, vua đã ưng cho, ông xin không thực hiện, vì cho rằng, nếu vậy, chỉ 3 tháng sau, dân sẽ phải mua giá cực đắt vì thiếu muối. Khi có một viên dưới quyền, coi kho, xin biếu ông 3 ngàn tiền, để được lĩnh 10 vạn tiền, ông bảo: "Tôi lấy bấy nhiêu tiền không biết để vào đâu"... Những chuyện như thế, trong Niên phả khá nhiều.... Khi kinh lý đến các trấn, phủ, huyện, ông sức trước cho các quan nơi đó, không được đón tiếp rườm rà, "không câu nệ hình thức, không giết gà mổ lợn", bữa ăn mời ông chỉ cần có cá và rau là đủ. Bản thân ông chưa từng biếu xén hối lộ, nên ít bạn bè, khi gặp sự cố bị cấp trên quở phạt, không có ai xin cho. Khi tiếp quan trên, cũng chỉ giết gà, "chưa từng mổ lợn". Ông thường dặn con cháu là phải tiết kiệm "ăn mặc đều như những kẻ tá điền và chớ bao giờ cho vay lấy lãi". "Ông ngoại ở Kiệt Đặc cho vay lấy lãi. Cái gì ông ngoại cho, không được đem về nhà". Đặc biệt, ông có một hành xử rất mới: Từ năm 1741, không mua ruộng thêm. Tất cả ruộng đất đã mua trước đó, đều "trả lại cho dân làng, không lấy tiền chuộc", vì ông cho rằng, tiền lương làm quan đã là tiền của dân rồi, lấy tiền ấy mua ruộng thì trả ruộng sao còn lấy lại tiền. Khi ông đau mắt, các quan đến thăm, ngạc nhiên thấy nhà ông tồi tàn. "Quan đại thần, không thể ở tồi tàn như vậy". Sau này, Phạm Đình Hổ, trong Minh đô sử, có viết rằng: "Ông vốn người cương trực, thanh liêm, làm quan suốt 40 năm, khi mất vẫn ở trong nhà tranh vách đất". Ngày ra nhậm chức Tể tướng lần thứ hai, đếm lại cả nhà "chỉ có 30 quan tiền lẻ". Có lần, ông ra trận, cầm cờ đại tướng quân, "vợ con đang ở kinh sư, đói rét khốn khổ" con ông (Trần Tiến) phải "đến gặp quan Tham chính là Hải Bối công, trình bày thẳng về việc nhà và nói rằng, nhà chẳng còn gì, khó mà tồn tại được". Quan Tham chính mới làm các thủ tục để trợ cấp cho.

Ba là, cố làm lợi cho dân: Trước hết là vấn đề ruộng đất, ông có những việc làm vô cùng táo bạo. Đó là thời kỳ ông cầm ấn Tể tướng, trực tiếp làm Điền chánh sứ, ông "thấy bọn cường hào chiếm ruộng đất, dân còn sống sót thì thất nghiệp", nên "muốn chia ruộng đất chính thức cho họ", ông "ức chế kẻ cường quyền, tước ruộng của kẻ mạnh chia cho người yếu", "cho nên những kẻ cùng đinh được thân oan đội ơn, còn bọn cường hào quyền quý thì phần nhiều không bằng lòng". Có kẻ vu cáo ông, cho là ông gây rối loạn lòng dân, triều đình phải "cử quan ở Kinh đô (Thăng Long) là Phan Cẩn về thanh tra, thấy không đúng sự thực, nên thôi". Ông viết khải dâng vua, trình bày phép “binh tàng ư nông”, khi nước yên thì biến lính triều đình thành nông dân, sản xuất lấy lúa gạo mà ăn, khi có biến thì toàn dân là lính. "Trước mặt nhà vua, xin ơn cho giảm suất đinh ở Kinh Nam (hai phủ Kinh Môn và Nam Sách) để cứu dân lành", "tha việc tăng thuế để khoan sức dân".

Bốn là, luôn xin nghỉ quan, kể cả lúc đương chức Tể tướng, để nhường đường cho kẻ hiền tài: Khi được phong chức hiệp đồng "đi đánh giặc Ninh Xá", ông "lấy cớ vợ con đang ở trong quân nên từ chối" nhưng không được. Ông nhiều lần viết khải, "ngửa trông thánh đức cho được về hưu, thôi chức Tham tụng cơ mật, cùng các công việc khác", hết lòng đề bạt người khác thay mình. Ông tâu vua rằng: "Bậc hiền tài đều đang tại vị, đâu có thiếu người" và mình ở lại, chỉ làm "vướng chân kẻ hiền tài". Ông còn viết thư cho quan Đốc xuất là Hải Quận công Phạm Đình Trọng, người do chính ông đề bạt, lời lẽ rất khẩn thiết, mà tôi chưa thấy bao giờ: "Trưởng quan được hoàng thượng tin yêu, nói gì đều được nghe, xin gì được nấy. Mong giúp đỡ vài lời khải tấu, nói đủ đầy những điều kém cỏi của tôi, không thể đảm đương được công việc...". Nếu được thôi chức, "Ơn ấy, nguyện khắc cốt ghi xương, coi bằng non Thái". Ngày nay, đọc những dòng này, còn thấy ông mới mẻ như thế nào. Về nghỉ, để được làm việc theo ý mình. Ông xin vua cho chiêu tập dân lưu tán sau những năm loạn lạc, khai hoang lập làng xã, thuộc 2 phủ Nam Sách và Kinh Môn, dọc theo sông Kinh Thầy, thuộc các huyện Nam Sách, Kim Thành, Kinh Môn, Chí Linh của Hải Dương; Đông Triều, Yên Hưng của Quảng Ninh và Thủy Nguyên của Hải Phòng ngày nay. Ý thức và hành xử của ông là cố gắng lo toan cho dân, làm lợi cho dân.

Trên đây là những ghi chép của Phó đô ngự sử Trần Tiến (1709-1770), cho ta hình dung một triều đại phong kiến với những nhiễu nhương của buổi suy tàn. Trong sự tiếp nhận của ngày hôm nay, chúng ta nhận ra khát vọng hòa bình, ổn định và phát triển của người xưa, mà hiện nay chúng ta đang thực hiện có hiệu quả. Thông qua hành tích của một con người với những hạn chế lịch sử nhất định cách ta non 300 năm, gạn đục khơi trong, chúng ta vẫn tiếp nhận được những giá trị tích cực, để xây dựng chuẩn mực đạo đức mới, vì một xã hội nhân ái, công bằng và tốt đẹp hơn.

PHẠM VĨNH
        In bài viết này
Các tin khác
Giếng cổ bảo lưu huyền sử (12/02/2012)
Hướng tới di sản văn hóa thế giới (08/02/2012)
Đâu bến Bình Than? (07/02/2012)
Lấy kinh sử “làm búa rìu” cai trị muôn dân (03/02/2012)
Đậm đà ẩm thực Hải Dương (02/02/2012)
Rừng phong chốn đất thiêng (25/01/2012)
Hoài niệm hương vị tám xoan (24/01/2012)
Sự tích ông Sộp, bà Dựa (15/01/2012)
Phát hiện khảo cổ bất ngờ ở Quang Tiền (08/01/2012)
Thêm 23 di tích được xếp hạng (25/12/2011)
Tin tiêu điểm
Triệt phá băng nhóm xã hội đenTriệt phá băng nhóm xã hội đen
Cán bộ đoàn năng động, học giỏiCán bộ đoàn năng động, học giỏi
Phòng, chống dịch cúm gia cầmPhòng, chống dịch cúm gia cầm
Whitney Houston đột tử ở tuổi 48Whitney Houston đột tử ở tuổi 48
Cựu chiến binh đi đầu hiến đất làm đườngCựu chiến binh đi đầu hiến đất làm đường
Tìm thấy thi thể mất tích người Hải DươngTìm thấy thi thể mất tích người Hải Dương
Công bố đình chỉ công tác lãnh đạo huyện Tiên LãngCông bố đình chỉ công tác lãnh đạo huyện Tiên Lãng
Tin đọc nhiều nhất
Tìm thấy thi thể mất tích người Hải DươngTìm thấy thi thể mất tích người Hải Dương
Thuê phòng nghỉ khách sạn để... đấu súngThuê phòng nghỉ khách sạn để... đấu súng
Bị bắt vì làm bạn gái nhí có bầuBị bắt vì làm bạn gái nhí có bầu
Chiến công đầu xuânChiến công đầu xuân
10 cách giải rượu khi say10 cách giải rượu khi say
Long đong chợ đầu mối nông sản Gia LộcLong đong chợ đầu mối nông sản Gia Lộc
"Cháy" hoa tươi dịp lễ tình nhân"Cháy" hoa tươi dịp lễ tình nhân
Thăm dò ý kiến
Ý kiến của bạn về đề xuất thu phí lưu hành ô-tô (20-50 triệu đồng/năm), xe máy (500.000-1 triệu đồng/năm):
Đồng ý
Không đồng ý
Ý kiến khác
Thông tin hỗ trợ
Thời tiết
Giá vàng
Tỷ giá ngoại tệ
Chứng khoán
Thông tin toà soạnĐặt báoLiên hệ quảng cáoGóp ý / Phản hồiSơ đồ siteWeblinks